Đồi Dương Xuân Thượng nằm lọt thỏm giữa những
ngọn đồi và núi bao quanh. Phía bắc giáp dốc Cầu Lim và đàn Nam giao;
phía nam giáp đồi lăng mộ cụ thượng thư Hồ Đắc Trung và vùng núi Ngũ
Tây, Thần Phù, Phú Bài; phía đông có núi Thiên Thai và vùng núi đá vôi
và phía tây có đồi Thiên An, núi Kim Phụng mà xa hơn là dãy Trường sơn
Nam. Sườn đồi Dương Xuân hình vòng cung , dưới chân đồi có khe suối uốn
khúc chảy từ hướng nam bắc vòng qua dưới Cầu Lim vào địa phận Dương
Xuân Hạ trước khi đổ ra sông Hương. Cách đây hơn nửa thế kỷ về mùa mưa suối chảy xiết nước đổ ầm ầm, đến
mùa khô hanh nước cạn dần, suối trở thành khe nước trong vắt ngọt lịm
có thể thấy đá cuội dứới lòng khe và những đàn cá nhỏ tung tăng rượt
đuổi nhau. Hai bên bờ suối là một dãi cát trắng phau nhất là ở trước
mặt tiền của chùa, còn ở nơi khác thì cát chen lẩn với đá cuội đủ màu
sắc (từ đen tuyền cho đến trắng bạch, xanh ngọc, xám, nâu vàng tím…) to
nhỏ tròn lép hay có những hình thù góc cạnh khác thường trông rất lạ
mắt đúng là:
Trước mặt bờ khe phơi cát trắng
Sau lưng chòm núi rợp cây xanh.
Đến thập niên 60 thế kỷ trước, sư ông trù trì chùa Trúc Lâm là Hòa
thượng Thích Mật Hiển cho ủi san bằng khu đất trước cổng chùa bên dưới
chân đồi và đào sâu xuống thành một cái hồ hình chữ S. Sư ông còn đắp
một con đường đi vòng quanh hồ, hai bên bờ trồng trúc, tre la ngà,
dương liễu. Mé phải đầu con đường thiền hành này sư ông có cho dựng một
cột đá có khắc chữ hình như là ba chữ Trúc Lâm Tự. Lâu ngày cột đá đổ
xuống không rõ tấm bia nay còn hay đã mất.
Gần một thế kỷ
khi mới lập chùa Trúc Lâm, chổ đó chỉ là một cái am lá thô sơ nằm trong
một khu rừng hoang vắng rậm rạp tre trúc dày đặc. Chung quanh am là đồi
núi khe suối chia cắt, theo đường chim bay thì từ kinh đô đến chùaTrúc
Lâm còn xa hơn chùa Tra Am của sư Viên Thành ở dưới chân núi Ngự Bình.
Ít người đến được nơi đây hoặc muốn tới phải băng rừng lội suối vạch
lau sậy đi theo lối mòn của tiều phu hay thợ săn.
Đồi
Dương Xuân là đất bìa rừng của dãy Trường Sơn, đứng trên núi Ngự Bình
hay trên đỉnh Thiên Thai nhìn về phía tây là có thể định vị đỉnh đồi
Dương Xuân Thượng nếu như có một tiều phu nào đó đốt củi làm than trên
đó.
Tồ khai sơn chùa là Thiền sư Giác Tiên, câu chuyện ngôi chùa được thành lập là một hạnh duyên cực kỳ lý thú :
Nguyên vào mùa xuân năm Ất Mùi (1895) triều Thành Thái, chùa Phổ
Quang ở dốc Bến Ngự càng ngày càng hư hỏng. Theo tương truyền là một
thảo am của ông Nguyễn Hữu Hào (Đôn Hậu Công Thần Trấn Thủ sinh năm
1642 mất năm 1712 tức anh ruột của Nguyễn Hữu Cảnh ngưởi khai sinh ra
thành phố Saigòn) tác giả của một truyên thơ bằng chữ Nôm truyền đời đó
là truyện Song Tinh (một tác phẩm văn học cổ nước ta trước cả truyện
Hoa Tiên và truyện Kiều hơn một thế kỷ). Lúc ấy, tự trưởng là Chánh
Động Đại sư đem ngôi chùa cúng dường cho đại lão hòa thượng Cương Kỷ
chùa Từ Hiếu. Bấy giờ có một tỳ kheo ni là bà Hồ Thị Nhàn người làng
Chuồn ( An Truyền, Phú Vang, Thừa Thiên) con ông Hồ Đắc Tuấn và bà Công
Nữ Thức Huấn, cháu ngoại của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm.
Bà sinh năm
1863 kết duyên cùng ông Nguyễn Đôn Lý, sau ngày chồng mất bà xuất gia
thụ giáo với hòa thượng Cương Kỷ chùa Từ Hiếu (1898) pháp danh Thanh
Linh hiệu Diên Trường. Bà xin phép đại lão hòa thượng được trùng tu
chùa Phổ Quang. Điện Phật, cửa chùa, nhà tăng, buồng bếp, ảnh tượng, đồ
thờ được sửa sang trang nghiêm đầy đủ. Bà lại đem chuyện đó tâu lên với
đức Thái hoàng Thái hậu Trang Ý Thuận Hiếu xin ban cho hai mẫu ruộng
chi dùng vào việc đèn hương… Đấy cũng là thời điểm đang mở đường xe lửa
chạy ngang qua dứơi chân đồi của chùa Phổ Quang, nơi ấy trở nên thị tứ
ồn ào đông đúc, dân cư tụ tập, chơ búa ghe thuyền tấp nập… nên sư bà
Diên Trường tìm đường rẻ lối tới chốn sơn lâm cùng cốc xa hơn lập một
thảo am khác để tiếp tục tu hành. Duyên lành đã hạnh ngộ trên đỉnh đồi
Dương Xuân là vậy, khi thảo am đã xong sư bà Diên Trường mời sư Giác
Tiên về làm trụ trì và sư cũng là tổ khai sơn của chùa Trúc Lâm ngày
nay.
Trước khi về nhận chùa, sư Giác Tiên đã cùng sư cụ
Diên Trường du hành đó đây. Khi đến Trúc Lâm Yên Tử (một trung tâm Phật
Học dứơi triều đại nhà Trần) hai vị đã lưu lại một thời gian, sưu tầm
một số pháp bảo quý giá như kinh điển, pháp khí. Trở về Huế, sư đã
quyết định đặt tên chùa là Trúc Lâm Đại Thánh, có ý liên hệ với Trúc
Lâm tinh xá thời Phật còn tại thế và thiền phái Trúc Lâm ở Yên Tử nước
ta do Trúc Lâm Đầu Đà Đại Sĩ (hiệu của vua Trần Nhân Tông) thiết lập.
Tổ khai sơn pháp danh Trừng Thành, tự Chí Thông thuộc dòng Lâm Tế
chánh tông đời thứ 42. Sư thế danh Nguyễn Duy Quyển sanh năm 1879 tại
làng Dạ Lê Thượng, Thủy Phương, Hương Thủy. Lên 4 tuổi thì song thân
mất, phải về ở với ông bà đến năm 11 tuổi (1890) xin xuất gia và được
thọ giáo với tổ sư Tâm Tịnh (đời thứ 41 thuộc dòng Lâm Tế, người khai
sơn tổ đình Tây Thiên). Đầu tiên ngài được tu học tại tổ đình Từ Hiếu,
nơi ngài Hải Thiệu đang làm trụ trì và ngài Tâm Tịnh làm giám tự. Năm
14 tuổi ngài được tổ cho thọ giới Sa-di. Năm 1907, Hòa thượng đàn đầu
Vĩnh Gia tổ chức đại giới đàn tại chùa Phước Lâm tỉnh Quảng Nam, ngài
được cho đăng đàn thọ cụ túc giới. Tại đây ngài được cử làm thủ chúng
Sa-di khi vừa 28 tuổi.
Năm 1918 sư mở đại giới đàn tại
chùa Từ Hiếu, mời Hòa thượng Tâm Tịnh làm đàn đầu. Năm 1924 vân tập
đại Tăng an cư kiết hạ tại chùa, năm sau sư được chiếu chỉ của triều
đình mời làm trú trì ngôi quốc tự Diệu Đế.
Năm 1926, sư
cho trùng tu toàn bộ Phật điện và tăng xá chùa Trúc Lâm. Đến năm 1928
ngài biến Trúc Lâm thành nơi đào tạo tăng tài. Năm Kỷ Tỵ 1929, ngài vào
Tổ đình Thập Tháp ở Bình Định mời Hòa thượng Phuớc Huệ ra Huế làm chủ
giảng. Năm 1930, sư khuyến khích và giúp đỡ sư bà Diệu Hương xây dựng
và mở Ni trường Diệu Đức.
Năm 1931, sư là người đầu tiên
khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo và vận động thành lập Hội An
Nam Phật học, thỉnh nhiều vị thiền sư tài đức về chung lo Phật sự. Năm
1932, nhờ sự giúp đỡ của bà Từ Cung (Đoan Huy Hoàng Thái hậu), vua Bảo
Đại cho phép An Nam Phật học hội ra đời do sư đứng đầu, trụ sở đầu tiên
đặt tại chùa Trúc Lâm Huế. Năm 1933, sư ủy cử thiền sư Mật Khế vị đệ tử
xuất sắc của ngài mở trường An Nam Phật học sơ cấp tại chùa Vạn Phước.
Năm 1934 vua Bảo Đại ban sắc chỉ đặt tên chùa là “Sắc tứ Trúc Lâm Đại
Thánh tự ”.
Năm 1935, pháp sư Trí Độ đảm nhiệm chức vụ Đốc
giáo sau khi trường dời từ chùa Túy Vân (chùa Thánh Duyên ) về chùa Báo
Quốc. Trong năm này sư cùng đệ tử Mật Khế tổ chức trường An Nam Phật
học tại Trúc Lâm, thu nhận 50 học tăng. Đến cuối năm ngài lại quy tụ
các học tăng có trình độ cao về Trúc Lâm để mở thêm cấp Đại học Phật
giáo, và đó là lớp Đại học Phật giáo đầu tiên có tại miền Trung. Ngoài
vị đệ tử lớn của sư là thiền sư Mật Khế, còn có vị đệ tử tại gia rất
xuất sắc là Bác sĩ Lê Đình Thám, người đã soạn thảo chương trình tu học
cho thanh thiếu niên Phật tử. An Nam Phật học hội đã hơn một lần tổ
chức một đại lễ Phật đản lớn chưa từng có ở Huế.
An Nam
Phật học hội qui tụ được nhiều nhà tu hành uyên bác như các Thiền sư
Mật Khế, Mật Thể, Đôn Hậu, Diệu Hương, Diệu Không... các cư sĩ như Tiến
sĩ Đinh Văn Chấp, Nguyễn Khoa Tân, Bửu Bác... và ra báo Viên Âm, tổ
chức các buổi thuyết pháp, dịch Kinh sách
Ngày 2 tháng 10
năm Bính Tý, sư cho quy tụ đồ chúng để nghe giảng kinh Pháp Bảo Đàn.
Hai hôm sau khi giảng xong phẩm Bát nhã, sư nhìn từng đệ tử để truyền
kệ và vào lúc 20 giờ ngày mùng 4 tháng 10 niên hiệu Bảo Đại thứ 11 (tức
ngày 17.11.1936) sư thị tịch lúc 57 tuổi trong lúc đang đảm nhận trách
vụ trú trì hai tổ đình Trúc Lâm - Diệu Đế và chứng minh đạo sư cho hội
An Nam Phật học.
Với công hạnh và đức độ của sư, ngài Tâm Tịnh đã phó pháp bài kệ sau :
Giác đạo kiếp không Tiên
Không không bát nhã Thuyền
Quả nhân phù hạnh giải
Xứ xứ tức an nhiên. (Đường giác kiếp không trước, thuyền bát nhã không không, hạnh giải hợp nhân quả, ở đâu cũng thung dung).
Ông Nguyễn Lang viết : “Thiền sư Giác Tiên có thể gọi là người đã
khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung. Thiền sư hướng
đạo cho hội An Nam Phật học được bốn năm thì viên tịch. Các đệ tử của
ngài là thiền sư Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện và Mật Thể đều đóng
những vai trò quan trọng trong phong trào chấn hưng Phật giáo sau này”.
Thiền sư Mật Khế là một trong những đại đệ tử của sư Giác
Tiên. Sư là con ông Khóa họ Lê ở Thần Phù và bà Nguyễn thị Lài người
làng Cầu Ngói Thanh Toàn. Xuất gia từ năm lên 7 tuổi sau khi cha qua
đời, sư là một người thông minh lanh lợi làu thông kinh sử ngay từ
thuờ niên thiếu được mọi người trong chùa gọi là chú tiểu Nam. Năm 20
– 22 tuổi khi đang tu học ở chùa Thánh Duyên - Túy Vân (quê hương của
đức Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại). Bà Từ Cung nghe tiếng sư là người uyên
bác nên cho vời sư vào cung để thuyết giảng phật pháp.
Thiền Sư Mật Khế qua đời khi còn rất trẻ khoảng 30 tuổi vì bị viêm phúc
mạc do viêm ruột thừa, hiện tại thiền sư còn một người em gái là cụ bà
Hồ Thị Huyền vợ của ông Ưng Úy (thượng thư bộ Lễ) và bà đang sống tại
Tp HCM.
Thiền sư Mật Thể thế danh là Nguyễn hữu Kê người
làng Nguyệt Biều (Hương Thủy, Thừa Thiên) sinh năm 1912, xuất gia năm
12 tuổi, tu học tại chùa Diệu Hỷ, Từ Quang, Trúc Lâm. Năm 1930, được
Hòa Thượng Giác Tiên nhận làm đệ tử pháp danh Tâm Nhất, hiệu Mật Thể.
Năm 1937 sang Trung Quốc học ỡ Phật Học Viện Tiêu Sơn, năm 1941 dạy tại
Phật học đường Lữơng Xuyên Trà Vinh, năm 1944 làm trụ trì chùa Phổ
Quang ở Huế và mất năm 1961 tại Nghệ An.
Thiền sư Mật Hiển
là sư ông trụ trì chùa Trúc Lâm lâu nhất, mất năm 1992 là ngươi có công
nhiều nhất trùng tu và xây dựng chùa Trúc Lâm để có được dáng vẻ như
ngày hôm nay.
Từ thành phố Huế xe đi qua cầu Nam Giao vào
con dường thẳng mà không bằng ấy đến đàn rẽ trái vượt qua cầu Lim găp
một con đường đất bên trái đi thêm khoảng 500 mét là đến cổng chùa.
Chỉ mất chừng nửa giờ đi xe là đến nơi, con đường đá vàng cát trắng
quanh co ngày xưa mà bác sĩ Lê Đình Thám đã từng mô tả :
Đường Trúc Lâm đá vàng cát trắng
Cảnh Trúc Lâm, cảnh vắng người thanh
Dòng khe lượn khúc như tranh
Rừng cây rợp bóng tươi xanh bốn mùa.
Thoạt đầu để mở được con đường quả thật là cam go vì khu vực này
còn là rừng nguyên sinh, cây cối tre trúc um tùm ít bóng ngươi lai
vãng. Đất đai chưa có ai khai phá có rất nhiều đoạn phải xẻ núi bởi
triền đồi Dương Xuân Thượng có độ dốc khá dựng đứng bên phải là vực sâu
có giòng khe nước chảy xiết nhất là mùa mưa bão.
Một trăm
năm trước nhà chùa chỉ làm được một lối mòn ven triền đồi để đi lại, xe
ngựa không thể vào đây được (dấu tích nay vẫn còn thấy). Sau những đợt
trùng tu chùa vào các năm 1926, 1942, 1968, 1992 con đường mới được
rộng rãi như hôm nay.
Tôi sinh ra và trọn tuổi ấu thơ đã
được sống bên cạnh chùa Trúc Lâm, ngôi chùa đã in một dấu ấn sâu sắc
trong tâm hồn tôi. Vả lại gia đình nhà tôi còn có một mối liên hệ rất
mật thiết với ngôi chùa này. Sư bà Diên Trường là em gái của ông nội
tôi là cụ Hồ Đắc Trung (Thượng thư bộ Học, Đông Các Đại Học Sĩ, thầy
dạy vua Duy Tân, bạn của hai ông Thái Phiên, Trần cao Vân và là người
duyệt lại bộ “Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu” một quyển sử quan trọng
của Quốc Sử Quán triều Nguyễn ).
Ở trong Hậu tổ Chùa Trúc Lâm hiện nay vẫn còn hai câu đối của ông nội tôi đề tặng khi Thiền sư Giác Tiên viên tịch:
Học hạnh khiêm ưu bình tố năng linh nhơn cảnh mộ
Tử sanh vô ngại tu trì định hoạch Phật siêu thăng.
Nghĩa :
Học hạnh khiêm ưu thường được người ta mến mộ .
Sống chết không ngại tu trì kết quả Phật siêu thăng. Vị kế Đông sơn phi cụ nhãn yên minh tổ ý
Pháp khai Nam lĩnh thị mê nhơn bất khế Phật tâm.
Nghĩa :
Ngôi nối núi Đông, không mắt tỏ sao rõ ý tổ .
Pháp mở rừng Nam, nếu người mê, không hiễu tâm Phật.
Năm 1942 thiền sư Mật Hiển đại trùng kiến chùa theo hình chữ khẩu,
đưa chánh điện lên phía trước, hai bên là đông đường dùng làm nhà khách
và tây đường làm thiền thất. Chánh điện cũ dùng làm nhà hậu để thờ chư
vị tiền bối hữu công và hương linh thiện nam tín nữ (trong đó gian giữa
có khán thờ ông bà nội và cha tôi).
Năm lên 6 tôi được mẹ
cho đi học ở một trường do các Cha cố dòng Thiên An lập ra ở ngã ba Cầu
Lim. Để đến trường có hai con đường, một là đi băng qua chùa Trúc Lâm
và hai là phải đi qua một cánh đồng.
Nhà tôi ở là cơ ngơi
dinh thự của bác tôi ông Hồ Đắc Khải , thượng thư bộ hộ để lại tọa lạc
trên một đỉnh đồi kế cận với đồi Thiên An
Tôi trở lại Trúc
Lâm lần cuối vào năm 1952 khi cha tôi qua đời, lúc ấy quân Pháp đóng
đồn ở Nam Giao. Chúng ngăn con đường cấm dân chúng không được đi lại
qua đồn. Từ Huế muốn lên chùa Trúc Lâm hay lăng Khải Định dân phải đi
vòng núi Bân, Ba Đồn, Tây Thiên hoặc phải đi vòng qua Long Thọ. Mẹ tôi
phải xin phép viên sĩ quan Pháp để xe chở quan tài của cha tôi được đi
ngang qua.
Sau tang lễ chúng tôi rời Huế vào Saigon và 4
năm sau khi hòa bình được tái lâp, chúng tôi trở lại Huế và kể từ đó
cuộc sống của tôi gắn liền mật thiết với ngôi chùa này hơn bởi nhiều lý
do.
Lần đầu tiên tôi khám phá những điều kỳ diệu của đạo
Phật là ở nơi lầu chuông, trong chùa lúc bấy giờ có mấy chú điệu cùng
trang lứa với anh em tôi là Lưu Ân và Lưu Phương. Ngày nọ, họ nói với
tôi là “ sáng mai mồng một Tết rán thức dậy thật sớm, tui sẽ dẫn anh
Thiện (tên tôi) lên lầu cho anh gióng chuông, hay và vui lắm”.
Đêm đó là đêm 30 tết, tôi ra đứng ngoài sân chùa nhìn về hướng
thành phố Huế thấy sáng rực lên một góc trời. Pháo của nhà ai đó ngoài
xóm nổ đi đùng vang tới cảnh chùa khiến lòng tôi cũng nao nao. Tối
thiếp đi cho tới khi bị lay dậy Lưu Ân suỵt môi ra dấu cho tôi đi rửa
mặt và thay áo quần, Lưu Phương đi trước cầm cái đèn hột vịt. Ngang qua
nhà khách, leo một bậc cấp dọc theo phía đông của nhà Tổ và chánh điện.
Lầu chuông có hình vuông. ba mặt tường có hoa văn nhìn ra phía ngoài,
lối đi vào ăn thông với hành lang của chánh điện. Một quả chuông rất to
màu xám xanh được treo trên một giá đỡ bằng gỗ. Mặt ngoài chuông trơn
láng gờ lên những hoa văn, so với thân hình của tôi lúc đó thì quả
chuông thật vĩ đại. Trên giá đỡ có một sợi dây căng ngang để móc các
thẻ tre, cứ mỗi lần dộng chuông thì kéo một thẻ từ phía nam qua bắc.
Chày rộng bằng gỗ rất đơn sơ được treo lên nóc bằng một sợi dây thừng,
nghe nói là sư ông đã cho thay cả chục cái chày, cho đến khi lựa được
một cái chày vừa ý mà sau này tôi cho là cái chày của sự tỉnh thức vì
chỉ có cái chày đó khi dộng chuông mới tạo ra một âm thanh vô cùng
huyền diệu. Một âm sắc có khả năng đưa con người trở về với thanh tịnh
tâm. Tiếng chuông phát ra từ cái dộng dầu tiên đã làm cho máu huyết
trong cơ thể tôi muốn đảo ngược lên sau đó điều hòa một cách nhẹ nhàng
êm ái, tâm hồn trở nên vắng lặng hư không. Tôi không còn ham muốn, ray
rứt hoặc giận hờn. Hình như mọi chuyện đều trở nên đơn giản và thân
thiện khi nghe tiếng ngân mơ hồ như từ một cõi ta bà nào đó vọng tới,
một thông điệp cuộn tròn trong những tiếng ngân cuối cùng. Tâm hồn thơ
ấu của tôi đang theo sau bước hành thiền của tiếng chuông, tôi đang
được tách rời ra khỏi với thế giới hiện tại thì có tiếng thúc giục của
Lưu Ân báo cho tôi biết là đến lúc phải dộng tiếng chuông kế tiếp.
Sau lần được gióng chuông , tôi bắt đầu tìm hiểu những điều bí ẩn
trong gian chánh điện là nơi mà tôi ít khi được lên đó một mình hay nói
cách khác là tôi không dám lên khi không có ai. Lúc đó tôi chỉ thích
cái sàn nhà của chánh điện, nó mát lạnh tuyệt vời mà không phải bất cứ
chùa nào ở Huế cũng có được. Chỉ cần nằm lăn lên trên cái sàn nhà đó là
hạnh phúc và bình an đến với tôi, tôi không còn sợ hãi ma quỉ hù dọa,
cảm giác như được mẹ ôm vào lòng, che chở và từ đó thỉnh thoảng nếu
thấy không có ai thì tôi lén chạy lên nằm lăn lên đó cho “đã thèm” !
Một lần tôi bị sư ông bắt gặp, có lẽ sư ông thấy hết hành động của tôi
từ đầu chí cuối, tôi lăn lộn như một chú chó con mừng chủ đi xa trở về,
ngụp lặn hạnh phúc trong cõi bình an một cách tột độ trước mặt hình
tượng im lặng trang nghiêm của đức Thế Tôn đang ngự trên tòa sen. Tôi
đã hốt hoảng biết chừng nào khi nhận ra là sư ông đang nhìn mình nằm
lăn ra như vậy.
Ngài không nói mà chỉ nhìn tôi đang sợ hãi
bối rối đứng lên rồi ngài đến nhẹ nhàng cầm bàn tay nhỏ bé của tôi đang
run rẩy dẫn qua phía tây của chánh điện, vòng ra phía nhà Tổ và chỉ cho
tôi ảnh của một người râu ria xồm xoàm vai vác một cây gậy có treo một
chiếc giày. Mãi đến mấy chục năm sau, tôi mới biết người ấy là ai Tôi
chưa bao giờ kể chuyện sư ông bắt gặp tôi nằm lăn ra sàn nhà chánh
điện với ai. Đó là ảo ảnh, hư cấu hay là một giấc mơ tẩu hỏa nhập ma
trong thời thơ ấu của mình để mà suy nghiệm lời của đức Thế Tôn dạy “
Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào ảnh như lộ, diệc như điểu,
ưng tác như thị quán ” Sư ông đã viên tịch cách đây 10 năm, nhục thân
của sư ông không biết bây giờ ra sao, duy chỉ có đôi mắt của và thần
cách của sư ông là vẫn còn sống mãi trong tâm hồn tôi. Cho đến bây giờ
đã qua tuổi 60 tôi vẫn còn “mơ hồ” về đôi mắt ấy, sự im lặng thiêng
liêng, bàn tay ấm áp của ngài khi cầm bàn tay nhỏ bé đang run rẫy của
tôi và cái mật hiễn mà sư ông chỉ cho tôi hình của ngài Bồ Đề Đạt Ma là
gì tôi cũng đang còn “mơ hồ” !
Một năm trước khi sư ông
viên tịch, tôi có gặp ngài tại chùa Già Lam và đôi mắt ấy sáng hơn,
mạnh mẽ và dữ dội hơn. Những tia sáng từ mắt ngài xuyên thủng mọi mầm
mống ác độc, nghi ngờ và đọc dò cả một quá khứ ẩn chứa trong tiềm thức
của tôi. Hình như trước đôi mắt của sư ông, tôi không thể dấu diếm, che
đậy, ma mãnh được bất cứ điều gì và cũng trong tia sáng từ đôi mắt ấy
tôi tìm được sự bình an vĩnh cửu, thảnh thơi và hình như sư ông cũng
“mơ hồ” không muốn giải mã về hành động của sư ông khi chỉ tay về phía
hình của ngài Bồ Đề Lạt Ma…
Giếng nước trước và sau lưng
chùa, khóm trúc, con suối vòng vèo, tiếng ngân cuối cùng trong lầu
chuông, sàn nhà trước chánh điện, đôi mắt của sư ông và kỷ niệm của
những đêm trừ tịch là tất cả những gì về chùa Trúc Lâm trong tâm trí
tôi.
“Đảnh lễ hay là quỳ lạy thì cũng vậy thôi , sửa làm
chi anh cứ để nguyên như vậy ” lời của thầy Trí Quang nói với tôi khi
mẹ tôi qua đời lúc bà 92 tuổi . Mẹ đã có lần nói “ ngồi bên mộ ba tôi
, mẹ vẫn còn nghe được tiêng chuông chùa Trúc Lâm vọng đến , âm vang
của tiếng chuông bay qua núi đồi khe suối len vào những tàng thông già
cỗ thụ , vổ về nhửng tia nắng cuối cùng của buổi chiều tỉnh lặng…. ”
Còn đối với tôi chùa Trúc Lâm là hóa thân của đôi mắt sư ông.