Ngược
dòng lịch sử hơn 300 năm về trước, vào thế kỷ XVIII trở đi, một bộ phận
cư dân các tỉnh Bắc Trung bộ và Trung Trung bộ lần lượt di cư về phương
Nam khai khẩn đất đai, an cư lạc nghiệp, trong đó có Bình Thuận. Nhóm
tụ cư ban đầu được hình thành trên cơ sở dòng tộc, họ hàng đoàn kết,
đùm bọc lẫn nhau để tạo lập cuộc sống mới, chẳng bao lâu những vùng đất
hoang vu đã trở thành đồng ruộng, xóm ấp và làng Lại An đã hình thành
trong bối cảnh ấy. Khi cuộc sống ổn định, để tưởng nhớ đến những người
đầu tiên có công khai phá đất đai, tạo dựng xóm làng, các làng đều lập
đình, chùa để thờ. Theo gia phả một số tộc họ để lại, hai họ có công
khai phá, tạo lập làng Lại An là Tiền - Trần và Hậu - Võ.
Lịch
sử hình thành, phát triển của Phật giáo Bình Thuận cũng như nguồn gốc
ra đời của các ngôi chùa luôn gắn với quá trình di dân của bộ phận cư
dân từ Bắc Trung bộ và Trung Trung bộ vào Nam khai khẩn đất đai tạo lập
cuộc sống mới; trong lớp cư dân di cư đó, ngoài những người ra đi tìm
cuộc sống mới, còn có không ít các nhà sư người Việt, người Hoa và đông
đảo tín đồ Phật giáo. Tại Bình Thuận, nhiều ngôi chùa ra đời trong hoàn
cảnh này như: chùa Phật Quang (chùa Cát), chùa Liên Trì (chùa Tre) ở
Phan Thiết; chùa Cổ Thạch (chùa Hang) ở Tuy Phong; chùa Linh Sơn Trường
Thọ (chùa Núi) ở Hàm Thuận Nam… và chùa An Lạc cũng ra đời vào thời
gian này.
Như một số chi tiết đã nêu trên, đoàn di dân Phật giáo
đã xuất hiện ở làng Lại An khá sớm và theo tục truyền vào năm 1778 thì
đã xây xong chùa An Lạc. Chùa được đặt tên là An Lạc với ước mong nơi
đây sẽ là nơi con cháu đời đời an cư lạc nghiệp. Tuy nhiên, qua các
nguồn tư liệu Hán Nôm còn lưu giữ tại chùa và một số nguồn tư liệu lịch
sử, xưa kia, Đại sư Huệ Đức - Định Thiền từ Điện Bàn, Quảng Nam du hóa
vào Bình Thuận, đến làng Lại An thấy cảnh trí yên lành, thanh tịnh, đất
đai trù phú nên dừng chân du hóa để làm nơi tu niệm. Đại sư có pháp
danh Như Hải, tự Định Thiền, tục danh là Lê Thành, sinh năm Đinh Dậu
(1836), viên tịch năm Giáp Dần (1904). Đại sư là bậc chân tu nghiêm trì
giới hạnh và được dân làng rất cảm mến; pháp giới, đạo đức của Đại sư
được Án sát sứ Phạm Kiêm Bố - Chánh sứ tỉnh Bình Thuận miêu tả: “Nơi
chùa Phật An Lạc ở xã Lại An, phủ hạt Hàm Thuận có vị sư tên Lê Thành,
hiệu Huệ Đức, tuổi cao phát nguyện quy y từ nhỏ, làm thông kinh kệ, giữ
vẹn pháp giới, chứng quả đạo tràng lại siêu phàm thoát tục…”.
Theo
nguồn tư liệu lưu giữ tại chùa, năm Thành Thái thứ 11 (1899) xây chính
điện có cổ lầu lợp ngói âm dương, tường xây vôi gạch rất nguy nga đồ
sộ; đến năm Thành Thái thứ 12 (1900) mới hoàn thành và tổ chức lễ khánh
thành rất trọng thể. Hiện nay, tại chính điện chùa An Lạc còn lưu giữ
thanh xà có khắc dòng chữ Hán mang nội dung: "Long Phi Thành Thái thập
nhất niên tuế thứ kỷ hợi thu nhất nguyệt thập nhất nhật bổn thôn đồng
cấu tạo linh tự nhất tòa"; tạm dịch: "Bổn thôn xây dựng một tòa chùa
linh vào ngày 11 tháng 7 năm Thành Thái thứ 11 (1899)".
Quần thể
kiến trúc nghệ thuật chùa An Lạc được bố trí theo dạng chữ khẩu, bao
gồm: chính điện ở phía trước, nhà thờ tổ ở phía sau, nhà đông - tây
lang nằm ở hai bên và chính giữa là khoảng sân trống. Trong kết cấu
kiến trúc chùa An Lạc, ông cha ta ngày trước sử dụng đồng thời hai dạng
kiến trúc dân gian tiêu biểu bấy giờ là tứ trụ và 8 cột chính ở trung
tâm và các cột phụ ở xung quanh để lắp ghép, nối ráp với nhau tạo nên
không gian hài hòa, phù hợp với chức năng, tín ngưỡng thờ phụng của di
tích.
Gỗ
là vật liệu chính yếu trong kết cấu kiến trúc với chức năng liên kết
chịu lực. Tất cả các bộ phận, chi tiết gỗ đều được chế tác từ các loại
gỗ quý ở địa phương, được tạo dáng, trau chuốt và chạm trổ công phu,
tinh tế qua bàn tay tài hoa, khéo léo của nghệ nhân xưa; bên cạnh đó,
các họa tiết trang trí trên nóc mái, các hình tượng đắp nổi trên vách
cổ lầu, trên các vì kèo, trính cho đến cách bài trí thờ phụng bên trong
đều thể hiện rõ sắc thái của một công trình kiến trúc tôn giáo ở thế kỷ
XIX.
Ngoài
những nét độc đáo trong kiến trúc nghệ thuật, chùa An Lạc còn bảo lưu
một số di vật cổ mang tính nghệ thuật và giá trị lịch sử cao; đáng kể
nhất là những di sản Hán Nôm có nhiều giá trị văn hóa - lịch sử và văn
học dân gian gắn liền với quá trình di dân, hình thành làng xã của cha
ông làng Lại An ngày trước với nội dung ca ngợi công đức của các bậc
tiền nhân dày công dựng chùa, hành đạo, hướng con người tu tâm, dưỡng
tính và vươn đến chân - thiện - mỹ.
Với những giá trị về lịch sử
- văn hóa và kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu đó, ngày 25.01.2006, Chủ
tịch UBND tỉnh Bình Thuận đã có quyết định số 266/QĐ-UBND chính thức
xếp hạng chùa An Lạc là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh; đây là
niềm vinh dự, tự hào của nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc nói chung và nhân
dân xã Hàm Thắng nói riêng.