TRANG CHỦ QUẢN LÝ
PHẢ HỆ TƯỞNG NIỆM CÁO PHÓ KIẾN THỨC HƯỚNG DẪN DỊCH VỤ
LIÊN HỆ SITE MAP
TÌM KIẾM NHANH
Tiêu đề bài viết
Chọn địa phương
CHUYỂN NHANH TỚI
Hãy chọn 1 dịch vụ mà bạn quan tâm
PHẢ HỆ CÁC TRIỀU ĐẠI
Nhà Tiền Lý (544-602) là một triều đại trong lịch sử Việt Nam, gắn liền với quốc hiệu Vạn Xuân. Nhà
PHẢ HỆ MỚI NHẤT
Lê Quốc
Hoằng Hóa - Thanh Hóa
Họ Phạm Đông Ngạc chi cụ Phạm Đạo Sinh
Đông Ngạc, Hà Nội
Phạm Văn
Thanh Lâm, Cường Tráng_An Thịnh_Lương Tài_Bắc Ninh
Xem tất cả
LỜI HAY Ý ĐẸP
Tôi thành công do tôi không đặt một chiếc đồng hồ nào trong phòng làm việc.
Thomas A. Edison
Người học Phật nên xa lìa tâm tam độc tâm phan duyên và tâm giác quán.
 Người niệm Phật nhân mong cầu cảm ứng, luôn luôn quán sát trong lúc niệm Phật có trạng thái khác lạ hay không, tâm khởi giác quán. Nếu thấy ánh sáng, nghe âm thanh, ngửi mùi hương, thân tâm khinh an, bèn khởi tâm phan duyên, bồng bềnh không định tĩnh...
Tag:
Tổ thứ tư của Thiền tông là thiền sư Đạo Tín nói: “Trừ bỏ tâm tam độc, tâm phan duyên[57], tâm giác quán. Niệm Phật tâm tâm tiếp nối, bỗng nhiên lắng trong, không còn niệm sở duyên. Kinh Đại Phẩm nói: ‘Không có cái để niệm, đó gọi là niệm Phật.’ Thế nào gọi là không có cái để niệm? Tức là, niệm Phật bằng tâm thì gọi là không có cái để niệm...... Vì sao vậy? Thức không có hình, Phật không có hình, Phật không có tướng mạo.” Trên đây là trích lời của thiền sư Đạo Tín[58], mục đích là để hành giả khử trừ hay giảm thấp tâm chấp trước đối với sắc thân, danh hiệu, thanh âm, và vọng niệm.

Người thế gian phần nhiều bị ba thứ phiền não độc hại là tham ái, sân hận và vô minh che lấp, đến nỗi không thể tự mình thấy được Phật tánh; do đó mà tham đắm vào các dục vọng như hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, hoặc tiền tài, sắc dục, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ; thường là không biết kính trên nhường dưới. Một chút gì không bằng lòng liền nổi trận lôi đình. Khi tiền của, thế lực không đủ bằng người, liền nghĩ cách ám hại báo thù; nếu tiền của dồi dào, thế lực mạnh mẽ thì công nhiên cưỡng đoạt của người. Tất cả những hành động tham lam, sân hận của thân, miệng, ý đều nhân vì vô minh mà gây nên. Do vô minh mà không thấy được thật tướng của pháp giới chúng sinh, cho rằng vật chất là thật có mà sinh tâm chấp trước; không thấy cái bản chất chân không diệu hữu của tự tánh, nên mới chấp cái thân năm uẩn huyễn hữu này mà cho là “ngã”; từ đó tạo ra các nghiệp. Người tốt thì biết làm lành để cầu sinh lên các cõi trời; người ở bậc trung bình thì biết làm lành để cầu có được phước báo, tiếng tốt trong đời này; người xấu ác thì làm lành giả dối, mượn danh khi người, thậm chí dùng mánh khóe thủ đoạn để cướp đoạt của người; nhân đó mà tâm phan duyên không dứt, mỗi niệm mỗi niệm đều chứa đầy tham sân si.

Nếu tự mình thấy được tự tánh, cảnh giới chứng ngộ không lùi, tất thấy cái bản chất chân không diệu hữu của Phật tánh vốn có, cái cảm giác chân thật về thân tâm và thế giới liền tiêu mất; không còn khởi niệm chấp trước đối với thân tâm thế giới, thì tâm tam độc tự nhiên dứt tuyệt, không còn tạo nghiệp xấu nữa. Kẻ phàm phu chúng ta nên suy nghĩ thân tâm là vô thường, thế giới là vô thường, tất cả mọi vật đều do nhân duyên giả hợp, chỉ có tạm thời, cuối cùng cũng tiêu hoại. Nếu trong sinh hoạt hằng ngày, gặp việc gì cũng suy nghĩ về sự vô thường, trong lúc tĩnh tọa lại càng suy nghĩ sâu xa về tính chất vô thường của thân tâm và thế giới, thì tâm chấp trước của chúng ta đối với thế giới, thân tâm, quyến thuộc, của cải, danh lợi v.v..., sẽ giảm nhẹ đi nhiều lắm, cái tác dụng của tâm tam độc cũng yếu dần, và lúc đó thì cái tâm phan duyên cũng hạ xuống thật thấp, rất dễ dàng an trú trong chánh niệm để niệm Phật.

Ở trong thế giới đầy năm trược này, nếu có người tu định, tham thiền, tu tịnh độ, cho đến nhiều pháp môn khác, để cầu ra khỏi ba cõi, giải thoát sinh tử, cũng như hồi hướng đến việc cứu độ chúng sinh ra khỏi ba cõi, giải thoát sinh tử, thật khó có gì đáng quí hơn! Nhưng người tu thì nhiều mà người thành công thì ít; bởi vì phần nhiều người ta thiếu chánh tri chánh kiến và mong cầu cảm ứng, mà giác quán thì không dứt. Chính cái tâm giác quán này đã làm chướng ngại cho người niệm Phật hoặc tu thiền tập định, khiến cho họ khó đạt đến chỗ nhất tâm bất loạn.

Sau đây xin lược bàn về tâm giác quán, từ cạn đến sâu, giúp cho hành giả xây dựng được tri kiến chính xác, trong quá trình tu học tự biết chọn lựa, quyết định. Xin quí vị hành giả xem kĩ và suy nghĩ.

Người niệm Phật nhân mong cầu cảm ứng, luôn luôn quán sát trong lúc niệm Phật có trạng thái khác lạ hay không, tâm khởi giác quán. Nếu thấy ánh sáng, nghe âm thanh, ngửi mùi hương, thân tâm khinh an, bèn khởi tâm phan duyên, bồng bềnh không định tĩnh. Muốn được nhất tâm bất loạn thật là khó khăn. Họa hoằn có người trì niệm danh hiệu Phật mà đạt đến chỗ không còn khởi vọng tưởng, người ấy lúc bấy giờ trong tâm chỉ muốn định, chứ không muốn niệm danh hiệu Phật; nhưng vì không nghe được những lời chỉ dạy về định, tri kiến không đầy đủ, trong tâm dùng dằng, không biết nên trì niệm Phật hiệu hay bỏ đi, rồi sinh phiền não, đến nỗi không được nhất tâm bất loạn. Nếu có đầy đủ tri kiến, thiện căn, thì lúc bấy giờ người ấy sẽ biết buông bỏ Phật hiệu mà an trú trong cảnh giới niệm Phật vô tướng. Nếu được Phật cảm ứng, phóng ánh sáng, nghe mùi hương, thân tâm khinh an, mà không lấy đó làm mừng, tâm không khởi động, luyện tập lâu dài, ngày ngày tiếp nối không gián đoạn; thậm chí trong sinh hoạt hằng ngày, lúc động cũng như lúc tĩnh đều có thể niệm Phật vô tướng, được thấy một niệm ban sơ[59], cho đến dần dần đạt được chánh định niệm Phật, thì có niềm vui nào sánh bằng! Được như vậy là đều do đã xa lìa được tâm giác quán thô thiển.

Qua những điều vừa trình bày trên thì biết rằng, tâm tam độc, tâm phan duyên và tâm giác quán, đối với người niệm Phật rất là đại kị, cần phải xa lìa.

Đến như người tu học thiền định, thì cái hại của tâm tam độc tham sân si như vừa nói trên, cũng đại kị và cần phải xa lìa như vậy. Lại nữa, người tham thiền có lúc nào đó bỗng thấy mình là người lợi căn, rồi sinh tâm khinh bỉ người niệm Phật, cho rằng người niệm Phật căn khí yếu kém, cả tri kiến và đức tin đều không đầy đủ, cho nên mới niệm Phật để cầu sinh về cõi tịnh độ do chư Phật hóa hiện ra. Đâu biết rằng, trong số người niệm Phật cũng không thiếu gì những người thượng căn, từng đạt đến chỗ tâm không có gì để niệm, không có Phật để niệm, dường như tâm định.

Cũng có một số ít người tu thiền, không những khinh bỉ người niệm Phật, mà đối với những người cùng tu thiền, thậm chí đối với những đạo tràng tu thiền khác, cũng sinh tâm kiêu mạn, cho rằng mình là giỏi hơn tất cả, không chịu lắng nghe tiếng nói cùng những kinh nghiệm của người khác. Như thế là ở trên cái tâm tam độc lại có thêm cái tâm ngã mạn, rồi nhân cái tâm ngã mạn ấy mà tâm sân hận càng trở nên mạnh mẽ. Cho nên, tâm ngã mạn thật quả là mối nguy hại to lớn cho người học thiền tu định; nếu không dứt trừ thì suốt ngày chỉ lẩn quẩn trong cái ý niệm nhân ngã, phân biệt hơn thua, muốn cầu tâm được định, cho đến thấy được tánh, thật giống như kẻ phàm phu mà muốn lên các cõi trời, khó khăn vô cùng!

Còn cái tâm phan duyên làm chướng ngại cho thiền định, đối với các hành giả mới phát tâm cũng như những vị đã tu tập lâu năm, hầu như không khác nhau mấy. Người mới học thiền định, thường thường ở trong quá trình tu hành, hễ nghe âm thanh, thấy ngoại cảnh, liền khởi tâm phan duyên; đó gọi là “tâm viên ý mã”[60], đợi đến lúc tỉnh ra thì có sớm cũng đã mười tám ngàn dặm, muốn được tâm định, ôi xa quá là xa! Đến như người tu hành đã lâu năm thì thường cố chấp nơi Phật pháp và cảnh giới khinh an, niệm niệm không trụ, phan duyên không dừng, muốn cầu được tâm định, cũng quả thật là khó! Muốn trừ khử cái tâm phan duyên này, trong lúc động cũng như trong lúc tĩnh đều có cách để tu. Cuốn sách này nhằm giới thiệu pháp môn “NIỆM PHẬT VÔ TƯỚNG”, động tĩnh đều thích nghi; dùng cái tâm vô tướng nhớ Phật lạy Phật, và cách trì danh niệm Phật làm phương tiện quyền xảo cho bước khởi đầu, thì có thể nhập vào pháp môn đó.

Tâm giác quán không những là phiền não đối với người tu định, mà còn là thứ đại kị đối với người tham thiền; xin phân tích trình bày như sau:

1. Người tu định thường dùng phép đếm hơi thở, thu nhiếp tâm ý vào một cảnh liên tục. Lúc đầu tâm còn thô sơ nên tán loạn, phải mỗi hơi thở mỗi đếm; đếm tới mười thì trở lại một. Cứ lặp đi lặp lại như thế, cho đến khi tâm không còn phan duyên thì chuyển sang phép theo dõi hơi thở. Theo dõi hơi thở một cách liên tục thì tâm sẽ qui về một mối thuần nhất. Lúc đó thì cái tâm giác quán thô sơ cũng không còn, người có trí sẽ khéo léo dùng tâm giác quán vi tế, khi các thứ cảnh giới vi diệu khởi lên từ tâm thuần nhất đó, biết khéo léo chọn lựa quyết định, sẽ chọn lựa một cảnh giới thiện diệu mà để tâm an trụ vào đó. Nếu an trụ được lâu, tâm sẽ lại chuyển thành vi tế hơn nữa, bấy giờ phải dần dần xả bỏ luôn tâm giác quán vi tế, mới có thể nhập vào “vị-đáo-địa định”[61]. Nếu đã nhập được vào vị-đáo-địa định, lại tập luyện thuần thục, khi những chướng ngại tâm tánh đều bị tiêu trừ hết, liền ở nơi sự sáng tỏ hoàn toàn của giác quán mà được nhập vào Sơ-thiền. Do công đức Sơ-thiền mà có được lạc-thọ, đó gọi là tâm thuần nhất với giác quán hỉ lạc[62]. Nếu đến giai đoạn cuối cùng mà vẫn còn chấp chặt nơi giác quán, không chịu buông bỏ, thì không thể nhập vào vị-đáo-địa định; không tu tập vị-đáo-địa định thì khó có thể nhập Sơ-thiền, huống gì là Nhị, Tam hay Tứ-thiền! Cho nên người tu định, trong thời kì đầu phải buông bỏ tâm giác quán thô lậu, cột tâm vào một pháp; sau đó sinh khởi tâm giác quán vi tế, khiến tâm an trú nơi cảnh giới vi tế. Sau khi sự an trú đã trở nên thuần thục, bấy giờ lại phải buông bỏ luôn tâm giác quán vi tế, mới có thể chứng nhập vị-đáo-địa định và Sơ-thiền. Khi tu Nhị-thiền, Tam-thiền, Tứ-thiền, và Tứ-không định, cũng hoàn toàn giống như vậy. Hành giả do biết rõ giác quán, có thể bỏ cái thô sơ lấy cái vi tế, cuối cùng thì bỏ luôn cái vi tế mới có thể vào định, chứng được các thiền. Còn nữa, khi các cảnh giới huyễn hóa của sáu thức hiện ra, phải khéo léo đối trị, không để bị giao động. Nếu chấp trước nơi tâm giác quán thì liền bị mê hoặc bởi các cảnh giới do sáu thức biến hóa, tâm phát sinh tham ái, tạo cơ hội thuận lợi cho ma vương dẫn dắt vào đường hiểm ác; rồi đưa đến việc nói dối mình chứng đắc cảnh thiền này, cảnh thánh nọ, đó là cầu đi lên nhưng trái lại là đọa lạc. Cũng có lúc qua lại với quỉ thần, bị quỉ thần quấy phá, tâm không định được, tất không thể nhập vào cảnh giới của chư Phật.

2. Người tham thiền lại càng phải trừ bỏ giác quán. Nếu không đoạn giác quán thì công phu sẽ không thể kết tụ thành một khối, nghi tình không khởi không sâu. Muốn tiến vào được giai đoạn “thấy núi không phải là núi, thấy sông không phải là sông” (xin xem chú thích số 7 của tác giả ở cuối sách) cũng còn không thể được, nói gì đến việc đánh phá khối nghi, thấy tánh giác ngộ!

Bác Sơn Vô Dị Nguyên Lai thiền sư[63] là một vị thiền sư lớn ở cuối triều đại nhà Minh[64], cũng là vị cao tăng quán thông cả Tông-môn và Giáo-hạ[65], từng biên soạn sách Tông Giáo Thông Thuyết (1 quyển). Ngài cũng có sách Bác Sơn Hòa Thượng Tham Thiền Kỉnh Ngữ lưu truyền ở đời, trong đó ngài chỉ dạy người tham thiền phải tu tập như thế nào. Nơi nào trong sách ấy ngài cũng nêu rõ cái lỗi của tâm giác quán, lại còn nhấn mạnh điều mà ngài bảo là “Không được đem tâm chờ ngộ[66]!” Người tham thiền, khi tâm sinh khởi nghi tình, nếu có tâm “chờ ngộ” thì không thể tiến được vào giai đoạn “thấy núi không phải là núi”. Nếu không có đủ công phu để tiến vào cảnh giới này, muốn cầu tự mình minh tâm kiến tánh, quả thật là khó khăn! Chỉ có nương nhờ một vị thiện tri thức thông suốt cả Tông và Giáo hướng dẫn và thúc đẩy mà thôi; nhưng loại thiện tri thức như thế cũng thật là hiếm có!

Bác Sơn thiền sư lại nói: “Khi tu tập, chỉ biết nghi tình không phá, ngoài ra không có niệm gì khác. Nếu có một niệm tơ hào nào khác, tức thì huệ mạng bị tổn thương.” Thậm chí ngài còn nói rằng: “Tôi nói ‘niệm khác’, không phải chỉ có pháp thế gian, mà tất cả những việc tốt trong Phật pháp – ngoại trừ việc quán xét tâm, – tất cả đều gọi là ‘niệm khác’. Mà cũng đâu phải chỉ có những việc trong Phật pháp, mà ngay nơi tâm thể, những niệm như lấy, bỏ, chấp, buông, cũng đều gọi là ‘niệm khác’ vậy.” Tham thiền vì sao như thế? Nguyên nhân chính là tâm giác quán; đó là đại kị. Giác quán không đoạn trừ thì thoại đầu thường bị mất, nghi tình không phát khởi, vội gì bàn đến việc tham thiền!

Người niệm Phật cũng vậy, cần phải diệt trừ tâm tam độc, tâm phan duyên và tâm giác quán; cần phải niệm Phật, niệm niệm tiếp nối. Niệm cho đến khi nhất tâm bất loạn, lắng trong vắng lặng, trong tâm không còn một niệm gì để duyên; điều đó cũng có nghĩa là không phan duyên cả đến hình tướng và danh hiệu Phật, âm thanh của danh hiệu Phật, cho đến một niệm nhớ tưởng cũng không phan duyên. Thiền sư Đạo Tín còn nêu một đoạn trong Kinh Đại Phẩm[67], rằng: “Không có cái để niệm, gọi là niệm Phật. Thế nào là không có cái để niệm? Tức là tâm niệm Phật, gọi là không có cái để niệm.” Nói cách khác, bất luận hành giả tu hành theo pháp môn nào, chỉ cần lấy “đệ nhất nghĩa” làm căn bản, không chấp trước vào “sắc ngã”, cho đến không chấp trước vào “thọ tưởng hành thức ngã”, không khởi các tâm tam độc, phan duyên và giác quán, không chấp trước vào tất cả pháp thế gian lẫn xuất thế gian, không một niệm nào duyên theo cảnh, bám theo cảnh, gọi đó là “không có cái để niệm”. Cái tâm “lắng trong vắng lặng không có một niệm phan duyên” này mới thực sự là cái “tâm niệm Phật”; đó là cảnh giới “lí nhất tâm”, là cảnh giới của “thật tướng niệm Phật”. Cư sĩ Bành Nhị Lâm[68] cũng đã viết trong tác phẩm Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội Luận của ông: “Biết tất cả Phật cho đến tâm ta, tất cả đều như mộng. Biết tất cả Phật đều như ảnh tượng, tâm mình như nước. Biết sắc tướng của tất cả Phật cho đến tâm mình, tất cả đều như huyễn. Biết tất cả Phật cho đến tâm mình, tất cả đều như tiếng vang. Ta biết như thế, ức niệm như thế, thì tất cả chư Phật mà ta trông thấy, đều do tự tâm.”

Niệm Phật đạt đến cảnh giới “lí nhất tâm”, tất phải nhờ tu tập cùng lúc cả Thiền và Tịnh, thể cứu niệm Phật, tự mình thấy rõ bản lai diện mục “niệm Phật là ai?”, cảnh giới giác ngộ không lùi mất, từng giờ từng phút, lúc nào cũng đem con mắt tâm quán chiếu, thấy rõ Phật tánh vốn có sẵn nơi mình, trải qua tháng năm, vĩnh viễn không lùi mất. Cảnh giới ấy, không phải người chuyên niệm Phật thì không dễ thành tựu, ngay cả người tham thiền cũng ít ai đạt đến được. Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận[69] thường lặp đi lặp lại câu nói: “Trong cửa này, ngàn người, vạn người, chỉ được ba, năm người.” Cho nên người tham thiền không nên khinh chê người niệm Phật, cũng đừng nên coi thường pháp môn Vô Tướng Niệm Phật. Pháp môn này có sâu có cạn. Cạn thì được “sự nhất tâm”, nhưng phần đông người tham thiền còn không nhất định đạt được. Sâu thì không những được “lí nhất tâm”, mà còn có thể chứng đắc Đẳng-giác, Diệu-giác[70], giải thoát rốt ráo.

Câu mở đầu của chương “Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông” nói rằng: “Pháp vương tử Đại Thế Chí và 52 vị Bồ-tát cùng tu một pháp môn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, ......” Đã có vô lượng vô số các vị Bồ-tát từng tu chung pháp môn Niệm Phật Viên Thông với Bồ-tát Đại Thế Chí, cùng lúc tham dự pháp hội Lăng-nghiêm, trong đó, 52 vị làm đại biểu, đã cùng với Bồ-tát Đại Thế Chí đảnh lễ chân Phật; rồi do chính Bồ-tát Đại Thế Chí nói ra pháp môn Niệm Phật Viên Thông này. Vì sao có 52 vị Bồ-tát làm đại biểu, mà không phải là một con số nào khác? Con số “52” đó hàm chứa một ý nghĩa sâu xa rằng, pháp môn này có cạn có sâu, thu nhiếp cả người lợi căn lẫn độn căn. Từ hạng Bồ-tát phàm phu cạn cợt nhất (bắt đầu từ bậc Tín đầu tiên đến bậc Tín thứ mười, tức trọn vẹn cấp Thập-tín) và hạng Bồ-tát ở địa vị Hiền (gồm 3 cấp Thập-trụ, Thập-hạnh và Thập-hồi-hướng), lên trên đến Bồ-tát ở địa vị Thánh (từ Địa thứ nhất đến Địa thứ 10, tức trọn vẹn cấp Thập-địa), cho đến chư vị Bồ-tát sắp thành Phật ở hai địa vị Đẳng-giác và Diệu-giác[71], vô luợng vô số, đều đồng tu pháp môn Niệm Phật Viên Thông này. Từ đó có thể thấy, pháp môn Niệm Phật Viên Thông thù thắng đến mức nào!
Phương pháp mà sách này trình bày, có thể giúp cho hành giả từ giai đoạn niệm Phật hữu tướng với tâm tán loạn, đạt đến giai đoạn niệm Phật trong “sự nhất tâm” (tức niệm Phật vô tướng). Phương pháp này giúp cho hành giả, ngay trong nếp sinh hoạt bận rộn của thời đại ngày nay, cũng có thể có được tịnh niệm tiếp nối (tức niệm Phật vô tướng); đó chính là một loại “công phu trong động”. Trong sinh hoạt thường ngày mà có thể hành trì vô tướng niệm Phật nhất tâm bất loạn, thì trong lúc tĩnh tọa lại càng dễ dàng đạt đến cảnh giới nhất tâm bất loạn. Đến như có thể đạt đến chỗ “lí nhất tâm” hay không, thì còn phải coi xem các kiếp trước của hành giả, thiện căn, tuệ căn thế nào; nhân duyên quả báo ra sao; cho đến có dứt bỏ được sự chướng, tiêu trừ được tánh chướng mà tinh tấn tu trì hay không.

Hành giả tu tập pháp môn Niệm Phật Viên Thông này được thành công ở bước đầu (tức niệm Phật vô tướng trong sự nhất tâm), trong tương lai khi xả bỏ báo thân, muốn vãng sinh về cõi Phương-tiện hữu-dư hoặc cõi Thật-báo trang-nghiêm ở thế giới Cực-lạc, tùy ý mà cảm ứng, chắc chắn được vãng sinh (xin xem chú thích số 1 của tác giả ở cuối sách); ngoại trừ trường hợp vẫn còn quyến luyến thế gian, không buông bỏ quyến thuộc, tiền của và sự nghiệp, hoặc chưa tương ứng với biệt nguyện của chư Phật (xin xem chú thích số 8 của tác giả ở cuối sách). Nếu hành giả có đầy đủ thiện căn phước đức làm tư lương, và có phương tiện thiện xảo, tu tập vào sâu đến lí nhất tâm và cảnh giới thâm diệu hơn nữa, thì muốn vãng sinh về tịnh độ của chư Phật cũng đều được vãng sinh. Nếu không muốn sinh về tịnh độ chư Phật, cũng có thể trụ nơi “duy tâm tịnh độ”. Người đạt được sự nhất tâm (tức tu tập thành công pháp môn Niệm Phật Vô Tướng), cố nhiên có thể cầu vãng sinh về thế giới Cực-lạc ở phương Tây, cũng có thể sinh liền vào cảnh giới thâm diệu để tu học sâu xa hơn, nhờ đó mà tiến lên các phẩm hoa sen, được sớm trở lại cõi Ta-bà, cứu độ chúng sinh đau khổ.

Người tham thiền nếu không muốn đi sâu vào pháp môn Niệm Phật Viên Thông, có thể lấy nó làm phương tiện, dùng xong liền bỏ đi – sự thật thì pháp môn này còn quí hơn cả vàng ngọc; cũng như qua sông thì phải dùng thuyền, khi đã đến bờ rồi thì không cần dùng thuyền nữa. Sau khi lấy pháp môn này tu tập thành tựu công phu trong động, tức đã đầy đủ năng lực khán thoại đầu, tham công án. Lúc bấy giờ tham thiền thì thật chắc chắn, vững vàng, tuyệt đối không gặp trở ngại. Cho nên người thật tâm tham thiền, nếu chưa có đủ năng lực khán thoại đầu, xin đừng nên vì không vừa lòng với phương tiện thiện xảo trong thời kì đầu của pháp môn này (tức lạy Phật và trì danh niệm Phật), mà bỏ cái pháp môn tu tập công phu trong động một cách tuyệt diệu này! Hành giả tu tập pháp môn ấy, có thể thành tựu công phu trong động; công phu đã có, bèn trở về thiền môn, tu thiền càng có hiệu quả lớn lao, còn gì vui hơn, sao lại không làm!? Lại còn có một điều lợi nữa: Pháp môn này rất thích hợp cho việc tu tập trong hoàn cảnh đầy chao động. Mỗi ngày chỉ cần hai buổi sớm tối đều dành ra từ 10 đến 20 phút để lạy Phật, đối với người học Phật bận rộn ngày nay, việc đó thích hợp không gì bằng!

Những điều vừa trình bày ở trên, xin quí vị hành giả nên lĩnh hội sâu sắc, nắm vững tinh nghĩa, sau đó hãy y theo phương pháp và thứ tự rất mực đơn giản sẽ được trình bày trong Chương Bốn sau đây mà tinh tấn luyện tập, thì chắc chắn sẽ thành tựu pháp tu Niệm Phật Vô Tướng; không những có hi vọng cầu vãng sinh Tịnh-độ, mà còn có thể tùy duyên tham thiền, thể cứu niệm Phật, vui biết bao nhiêu!  


Ngày đăng: 8/8/2008 11:32:52 PM;    Nguồn: http://www.thuvienhoasen.org
..........................................................................................................................................................................................
Một số hình ảnh liên quan:
.
.
  Các bài tiếp theo
Ăn chay. (21/07/2008)
Đạo Phật và thuyết ăn chay (19/07/2008)
Đôi nét về nguồn gốc của chuông gõ mõ (19/07/2008)
Ý Nghĩa Ba Cái Lạy Của Phật Giáo (19/07/2008)
Vài nét về đạo Phật (19/07/2008)
Tôn giáo hay tín ngưỡng. (06/08/2008)
Tôi vẫn thường gặp Phật (05/08/2008)
Hai thứ tự do (05/08/2008)
Đức Phật đản sinh: Suối nguồn từ bi và bình đẳng (05/08/2008)
Đạo Lão (05/08/2008)
HỒN QUÊ
TÌM KIẾM
THÔNG BÁO MỚI
...................................................
Số điện thoại hỗ trợ:
  • 0912528073
Hỗ trợ trực tuyến: Phahe_2
BÀI HAY
.....................................................
.....................................................
.....................................................
.....................................................
.....................................................
Trạng nguyên đầu tiên của nước ta là ai?
Phạm Đôn Lễ
Lê Văn Thịnh
Lương Thế Vinh
Nguyễn Giản Thanh
 
GIỚI THIỆU ĐIỀU KHOẢN LIÊN HỆ GÓP Ý SITEMAP
© 2005 - 2008. Bản quyền thuộc N.V.S - Phahe.vn