Đạo Phật cho rằng thế giới là vật chất vô tận, không có sinh không có diệt. Các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ (gọi là vạn pháp) không đứng yên mà luôn luôn chuyển động, biến đổi theo một chu trình: thành - trụ - hoại - tan rã. Sinh và diệt là hai quá trình xảy ra đồng thời trtong một sự vật hiện tượng, cũng như trong toàn thể vũ trụ rộng lớn. Sự thành trụ của thế giới này, pháp này là sự hoài không của thế giới khác, pháp khác
Phật tổ Như Lai - Thích Ca Mầu Ni, họ là Thích ca, tên là Cổ Đàm tự là Tất Đại Đa, con vua nước Ca Duy Vệ (một nước nhỏ ở ấn độ) tên là Tĩnh phạm Đồ đầu gia. Phật mẫu tên là Tĩnh Diệm. Sách Phật nói rằng: "Bà mẹ chiêm bao thấy người vàng đầu thai mà sinh ra Ngài". Sinh ra khỏi, Ngài bước đi bẩy bước, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất mà thét lên rằng: " Thiên thượng, Địa hạ, duy ngã độc tôn!" tạm dịch "Trên thì trời, dưới thì đất, duy có ta là quý hơn cả!" sau đó mới nằm xuống như đứa trẻ khác.
Ngài sinh bấy giờ là ngày mồng tám tháng Tư (nhưng lại nói ngày trăng tròn?, nên gần đây đều kỷ niệm vào ngày rằm tháng tư âm lịch) nhưng không tường về năm nào (Phái bắc ấn độ thì nói sinh năm 1028 B.C., phái nam ấn độ cho chừng vào năm 624 B.C., nhưng các nhà bác học thời nay thì cho vào khoảng 558 đến 520 B.C.). Năm 2001 tức năm Phật lịch thứ 2545. (Theo thuyết Phật Giáo thế giới hiện hành lấy năm Phật nhập Niết bàn làm lễ kỷ niệm - 544 B.C.)
Ông Thích ca cũng đã lấy ba vợ, sinh được một con trai. Năm hai mươi chín tuổi thấy một người già yếu tàn tật vào ăn xin, mới suy nghĩ ra đời người toàn là cảnh khổ, lập tức đêm ấy bỏ nhà vào rừng đi tu. Trước hết vào tu ở núi Đàn Đặc và núi Tuyết sơn, sau đến tu ở xứ Xá vệ, ngày ngày mặc áo cà sa ngồi dưới gốc cây Bồ đề để tĩnh niệm nghĩ cách giải thoát. Được bẩy năm, tỉnh ngộ được đạo huyền diệu, tự xưng là Bồ Đà (Bouddha) nghĩa là trong tâm tính đã sáng suốt cả rồi, từ bấy giờ mới đi truyền đạo.
Tục truyền Ngài về sau ăn mỡ lợn, phát trướng mà mất ở Câu Thi, lúc gần mất ông nói rằng: "Nay ta đã lên cõi Niết Bàn, nghĩa là lên đến chỗ cực lạc thế giới", thọ 80 tuổi.
Ngài mất rồi, các học trò soạn nhặt các lời di ngôn, tập lại thành sách, cả thẩy 42 chương, chia làm ba quyển, gọi là kinh Tam tạng (tạng có nghĩ là chứa)
1. Kinh tạng, là những lời luân thường đạo lý
2. Luật tạng, là những lời trời cấm
3. Luận tạng, là những lời nghị luận
Phật Giáo có ba ngôi "Tam Bảo"
- Phật Bảo là nguồn Đạo giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, dứt khỏi buồn vui, cả chư thiên và nhân loại
- Pháp Bảo là các pháp diệu dược nhiệm mầu của các chư Phật nói ra, được chép vào sách thành ba tạng kinh điển nhằm chữa bệnh tâm, phiền não của chúng sinh trong tam giới.
- Tăng Bảo là các đệ tử của chư Phật, những người thay mặt ba đời chư Phật hướng dẫn, dìu dắt quần sinh thoát khỏi nẻo tối, đường mê, tu hành đến nơi dứt khổ, thắp sáng trí tuệ.
Tam Bảo có mặt ở cả 10 phương, chỗ nào cũng có Tam Bảo.
Đạo Phật chia trong cơ thể, gọi là Lục côn (sáu cái gốc) là: Nhãn (mắt), nhĩ (tai), tị (mũi), thiệt (lưỡi), thân (mình), ý (ý tưởng).
Các ngoại vật động đến cơ thể, gọi là Lục trần (sáu cái bụi) là: Sắc (sắc đẹp), thanh, hương (mùi thơm), vị, súc (chạm tới mình), pháp (tưởng tượng).
Lại có Ngũ giới (năm điều cấm) là: bất sát sinh, bất đạo (không được trộm cắp), bất gian dâm, bất vọng ngôn (không được nói càn), bất ẩm tửu thực nhục (không được uống rượu, ăn thịt).