TRANG CHỦ QUẢN LÝ
PHẢ HỆ TƯỞNG NIỆM CÁO PHÓ KIẾN THỨC HƯỚNG DẪN DỊCH VỤ
LIÊN HỆ SITE MAP
Chức năng
Thông tin chung
Lời mở đầu
Phả ký, khởi tổ
Hương hoả
Thủ tục, quy ước
Tin tức, bài viết
Thông báo giỗ
Album ảnh
File tư liệu
Phả đồ
Quỹ dòng họ
Sự kiện dòng họ
Tin tức - Bài viết
Hoạt động dòng họ
Tư liệu lịch sử
Văn hóa, nghệ thuật
Nhân vật tiêu biểu
Ban liên lạc dòng họ
Đăng nhập
Tên  
Mật khẩu  
Đăng nhập
     Đăng ký | Quên mật khẩu
Thông tin liên hệ
Họ tên: VŨ HỒNG GIANG
Email: gianghongvu@yahoo.com.vn
Điện thoại: 0438642799; 0913219009
Địa chỉ: 42 tổ 5 - phường Thịnh Liệt -quận Hoàng Mai - Hà Nội
Sự kiện dòng họ
September, 2014
 
Mon Tue Web Thu Fri Sat Sun
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30
   Ngày có sự kiện Xem tất cả
Today: 23/09/2014
PHẢ HỆ DÒNG HỌ VŨ
 HỌ VŨ TẠI XÃ NINH PHÚC- THÀNH PHỐ NINH BÌNH- TỈNH NINH BÌNH
Lời mở đầu dòng họ.

NĂM THỨ XXXV CỘNG HÒA VIỆT NAM

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

 

GHI CHÉP CƠ BẢN VỀ

HỌ VŨ XÃ NINH PHÚC NINH BÌNH

 

LỜI MỞ ĐẦU:

         

Cuộc sống hiện tại và tương lai luôn tồn tại các cặp phạm trù hồ đồ: Đúng – Sai; Hay – Dở; Đói – No; Giầu – Nghèo; Sướng – Khổ; Sống – Chết … Vì không ai lý giải được tại sao, không ai biết trước hết điều gì? Chỉ có quá khứ là chân lý. Cùng với khoảng cách về thời gian và địa lý, cường độ lao động bận rộn vất vả đã tạo ra rào cản, ngăn cách thông tin giữa các thế hệ trong cùng một dòng họ, mặc dù trong quan hệ huyết thống và các quan hệ tâm linh, các thế hệ trước đã có ý thức giáo dục thế hệ sau hướng về cội nguồn bằng cách truyền khẩu hoặc ghi chép sơ sài về tên, tuổi, ngày giỗ của cá nhân, hoặc vài thế hệ trong họ, tộc. Điều đó, khiến mỗi người chúng ta luôn day dứt nỗi niềm chưa làm tròn trách nhiệm với những người đã khuất và với những người đang sống. Hơn nữa, chất lượng cuộc sống không chỉ đơn thuần là những giá trị vật chất mà đỉnh cao cuộc sống là hiểu biết và giá trị tinh thần. Do vậy việc lưu trữ lại các thông tin của quá khứ đặc biệt là các thông tin về Tổ tiên cho hậu thế là điều rất cần thiết và đặc biệt quan trọng, điều đó giúp mọi người hiểu biết hơn về Tổ tiên, củng cố nề nếp gia phong, kết nối các thành viên phát huy truyền thống tốt đẹp, mưu cầu tiến bộ, hiển vinh. Đó cũng là giá trị của cuộc sống.

          Với hiểu biết có hạn của mình, tôi chỉ ghi lại một số các thông tin cơ bản về Gia tộc Họ Vũ của tôi ở Xã Ninh Phúc – Thành phố Ninh Bình – Tỉnh Ninh Bình. Tôi rất mong mọi người trong họ sẽ bổ sung để các ghi chép dưới đây được đầy đủ và hoàn thiện hơn, góp phần kết nối cuộc sống tâm linh và hiện tại và phát huy các tuyền thống tốt đẹp của mỗi gia đình, của cả dòng họ trong truyền thống văn hóa dân tộc.

 

 

PHẦN I - LÀNG BỢI

 

                               Thêm ba cây số về xuôi

Theo dòng sông Đáy làng tôi bên này

Đò này, phiên chợ, thôi đê,

Ở quê tôi gọi cùng chung tên làng.

 

Đó chính là làng Bợi xã Ninh Phúc - Thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình.

1 – Vị trí địa lý tự nhiên

- Xã Ninh Phúc Thuộc thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình (trước đây thuộc huyện Gia Khánh, rồi thuộc huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình).

- Phía Đông Nam giáp xã Khánh Hòa, Khánh Phú huyện Yên Khánh.

- Phía Đông Bắc giáp sông Đáy.

- Phía Tây Bắc giáp xã Ninh Sơn.

- Phía Tây Nam giáp Sông Con (Hoàng Sào. Đoạn sông này ở Gia Viễn, Trường Yên có tên là Sào Khê) và cách trung tâm thành phố Ninh Bình hơn 3Km về hướng Đông Nam.

- Hệ thống giao thông hiện có Quốc lộ 10 cắt qua và sắp tới có cả Đường cao tốc Hà Nội – Ninh Bình cắt qua. Đường thủy có Cảng sông Ninh Phúc, mức nước tàu trên dưới 1000 tấn (Tàu 4000 tấn có thể ra vào qua của Đáy, mớn nước của ngưỡng cửa Đáy là khoảng 4m). Cơ bản giao thông thuận tiện.

- Theo địa giới tự nhiên xã Ninh Phúc gồm 3 thôn (làng): Yên Phúc, Phúc Trung, Yên Khoái chạy từ sông Đáy đến sông Con.

- Không có tài nguyên khoáng sản hay đặc sản nông lâm thổ sản. Dữ liệu địa chất, thủy văn không có gì đặc biệt.

- Diện tích trên 6 Km2, Dân số theo số liệu điều tra dân số 2009 là trên 8,4 nghìn người (Trên 10 nghìn người kể cả những người đi xa).

- Trụ sở Ủy ban (trụ sở hành chính) xã ở giữa thôn Yên phúc và thôn Phúc Trung, trung tâm của 3 thôn.

2 – Địa lý văn hóa

 Mặc dù trải qua rất nhiều biến động về chính trị xã hội, song kết cấu và quan hệ gi ữa 3 làng (3 thôn) của xã Ninh Phúc vẫn cơ bản không thay đổi và vẫn giữ được những nét văn hóa riêng của làng, của xã. Nổi bật của văn hóa xã Ninh Phúc đó là văn hóa “Ven đô” với 2 nét đặc trưng là: 

           + Một là : Do Nông dân nhưng lại đ ược tiếp súc với văn hóa đô thị sớm hơn các vùng khác, cho nên nhận thức và dân trí có cao hơn dân cư trong vùng đôi chút, trình độ sản xuất nông nghiệp cũng cao hơn (cả về trồng chọt và chăn nuôi) và đặc biệt là không có nghề truyền thống cũng vì sống ven đô.

           + Hai là : Vùng đất chịu đựng nhiều chiến tranh hơn các vùng khác, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể bị mất gần hết. Qua nhiều thế hệ việc mất mát này đã ảnh hưởng đến suy nghĩ và cá tính của cư dân trong làng đó là tính hiếu thắng và tính chơi trội.

   Hai điểm cơ bản đó đã tạo ra một nét văn hóa khác biệt với văn hóa các làng xã khác. 

Xã Ninh Phúc của chúng tôi là vùng đất văn hóa nghìn đời. Theo thiết chế thời Phong kiến mỗi làng phải có ít nhất 01 Đền, Đình thờ Thành hoàng làng (Người có công giúp dân trong làng), nhưng trong toàn xã có trên 30 đền, đình. Riêng Làng Bợi có đủ Tứ Trấn (Đền Đông, Đền Đoài, Đền Ninh, Đền Thượng và Đền Lãng. Đền Đông – Trấn Đông, Đền Đoài – Trấn Tây; Đền Ninh – Trấn Bắc; Đền Thượng – Trấn Nam; Đền Lãng - ở giữa chính là Đình Làng Bợi). Đình, đền, miếu mạo và chùa chiền là nơi sinh hoạt chính trị, văn hóa cộng  đồng cho nhân dân trong làng và dân cư lân cận. Các bậc tiền bối đã quy hoạch sân Đình làm nơi họp chợ Bợi để thuận tiện cho việc thông tin tuyên chuyền các chính sách của các cấp chính quyền xưa. Đình làng Bợi (Đền Lãng) trở thành trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của làng Bợi, cũng là trung tâm văn hóa, chính trị của cả Xã Ninh Phúc và vùng lân cận.         

Trước đây là vùng đất thuần nông có đầy đủ đặc trưng của làng quê Việt Nam: Bến đò, Thôi đê, Phiên chợ, cùng chung tên Làng. Làng tôi có tên một cái tên rất đặc biệt – làng Bợi. Làng Bợi chính là thôn Yên Phúc. Để tạm lý giải về tên làng là làng Bợi theo tôi có thể là:

Bợi – chính là cách nói lái của từ “BẠI”. Bại có lẽ bắt đầu từ văn hóa  “Ven đô” – muốn chơi trội nên hay thua và là vùng đất bị chiến tranh tàn phá liên miên nên cũng thua thiệt quá nhiều. Để chứng minh cho giả thuyết này chúng ta có thể nghiên cứu giai thoại về Đền Đông - Thờ Ngài Đông Hải Đại Vương và các quần thần của Ngài. Giai thoại kể rằng vào thờì xa xưa ( Nhà lý, nhà Trần hay nhà Lê gì đó), một tướng lĩnh triều đình đã hết lòng vì dân ở vùng này, Ngài đã nhiều lần dẹp tan nạn cướp bóc, tham quan, trấn giữ vùng tiền đồn tổ quốc (Khi đó vùng đất này rất gần với Biển Đông một vị trí quân sự quan trọng) xây dựng cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho cả một vùng trong đó có xã Ninh Phúc – Bản doanh của Ngài được lấy tên là Yên Phúc – chắc có lẽ là yên bình và hạnh phúc,phúc đức, phúc lộc.... Thế rồi sau một trận chiến với quân phản loạn và giặc ngoại xâm, bị thua, dân làng không tìm được xác Ngài, người ta cho rằng Ngài đã được Thiên táng. Sau nhiều ngày tìm kiếm dân trong làng chỉ tìm thấy ngựa và kiếm của Ngài trên chiến trường. Hình ngựa  ngã xuống còn nhìn rõ trên cánh đồng làng hiện nay (giai thoại này như giai thoại Thánh Gióng ở Việt Nam – tên thửa ruộng giáp Khánh Hòa, Khánh Phú có tên Cổ ngựa, Mình ngựa, Quần ngựa …). Kiếm của Ngài cắm chặt xuống đất không ai nhổ lên được. Do không tìm được thi thể của Ngài mà nhân dân đã đắp đất lên thanh kiếm của Ngài thành mộ tượng trưng cho mộ phần của Ngài và từ đó có tên là Mả Đông, sau đó nhân dân còn xây dựng một nhà thờ để ghi nhớ công lao của Ngài đó là đền Đông còn đến ngày nay. Trong lịch sử Việt Nam có 2 Vị Thánh có tên là Đông Hải, một Vị thời Lý, một Vị là con trai Trần Hưng Đạo, do vậy để khẳng định giai thoại và lịch sử Đền Đông trên ở thời Lý, thời Trần hay thời Lê là một vấn đề khoa học lịch sử rất lớn, chúng ta chỉ công nhận là có giai thoại và có đền thờ Ngài Đông Hải gắn với việc đặt tên làng Bợi. Đền Đông còn bia đá cúng đền, nội dung bia là chữ hán nôm nên tôi và nhiều người không rõ, chỉ biết rằng ngày lễ chính là ngày 15 tháng 3 âm lịch hàng năm.

 Thực tế từ khi lớn lên tôi được biết đình làng Bợi chỉ còn là một đống đổ nát, sân đình là nơi họp chợ phiên vào các ngày mùng 3;6;8;10; 13; 16; 18; 20; 23; 26; 28 và 30 âm lịch hàng tháng. Các ngày còn lại luân phiên cho chợ Giầu xã Khánh Hòa và chợ Vệ xã Khánh Phú. Chợ Bợi là chợ sầm uất  nhất vùng, họp nhiều phiên hơn, nhiều hàng hóa hơn, đặc biệt là chợ duy nhất trong vùng có buôn bán các loại Lợn giống, Lợn thịt (Cả tỉnh Ninh Bình không có chợ trâu bò, chỉ có một vài chợ buôn bán lợn). Điều này cũng chứng tỏ làng Bợi là trung tâm kinh tế, văn hóa trong vùng. Cây Đa đầu đình cũng không còn, tôi đã hỏi Ông bà tôi và nhiều ng ư ời cao niên thì các Cụ đều giải thích là do chiến tranh chống Pháp kéo dài liên miên, giặc Pháp càn quét đốt phá liên tục, nhân dân phải chạy loạn không thể xây lại được đình làng. Năm 1975 chiến tranh chống Mỹ kết thúc nhưng hậu quả của nó còn tệ hại hơn ở tư t ưở ng vô thần, nhiều Đình, Chùa, Miếu mạo không những không được tu sửa mà còn bị hủy hoại nhiều hơn cả thời kỳ chiến tranh như đền Ninh, đền Đoài…đã không còn dấu tích, nhiều đền chỉ có Thánh Thần mới biết, dân trong làng chỉ còn biết tiếc nuối cho sự dại dột của một thời. Kinh tế khó khăn nên việc khôi phục lại Đình làng mãi đến năm 2000 mới được nhân dân quan tâm (trong đó có công của Mặt trận tổ quốc và sự ủng hộ của chính quyền xã Ninh phúc).

Lễ Hội làng Bợi 03 năm tổ chức trọng thể một lần vào ngày 10 đến 12 tháng 3 âm lịch các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Ngày 10 trùng phiên chợ thì buổi chiều th c hiện việc tế lễ, cúng lễ cho nhân dân trong làng và khách thập phương, ngày 11 Rước kiệu, Hội hè, văn nghệ, ban đêm hát chèo…ngày 12 rước kiệu Hồi loan. Trong Lễ Hội của làng bây giờ thiếu đi nhiều trò chơi dân gian mà trước đây tôi đã được xem trong hội xuân hồi còn nhỏ như: đi xe đạp nhặt khăn mùi xoa, bịt mắt đập niêu đất, vật, kéo co, chơi đu….

Hội làng bây giờ vui nhất là rước kiệu Thánh, toàn xã Ninh Phúc có trên 30 Đền thờ, Miếu mạo thờ các vị Thánh Thần phù hộ cho dân làng. Tùy theo quy mô ban Tổ chức lễ hội sẽ quyết định số lượng kiệu để rước các Ngài. Khi rước kiệu là lúc:

  Âm dương hòa hợp,

 Trần Dân gặp Thánh Thần,

Thánh Thần gặp trần Dân

Thánh Thần gặp Thánh Thần,

Trần Dân gặp Trần Dân .

Nô nức, háo hức, trong âm thanh chiêng trống rộn ràng, cờ phớn rợp trời tưng bừng khôn tả. Nhân dịp này mọi người như cởi mở, dãi bày lòng thành trước các vị Thánh Thần. Được trực tiếp tham gia rước kiệu hội làng năm 2008 từ đầu (từ ngày hôm trước) tôi thật may mắn tận hưởng gần như trọn vẹn niềm vui, niềm hạnh phúc của người dân trong làng, một xúc cảm thần tiên chưa bao giờ có trong đời. Theo kể lại do chiến tranh (chống Pháp, chống Mỹ) liên miên mãi đến năm 1956 (2 năm sau hòa bình lập lại) Làng mới tổ chức Lễ hội rước kiệu hoành tráng 1 lần sau dó lại bị ngắt quãng đến năm 2005 (sau khi khôi phục sơ bộ Đình làng Bợi) mới tổ chức lại và được toàn dân hưởng ứng cũng như được sự ủng hộ của chính quyền các cấp đã quyết định khôi phục lại lễ hội làng Bợi 3 năm 1 lần nhằm mục đích uống nước nhớ nguồn và giáo dục các thế hệ con em trong làng phát huy truyền thống xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quê hương giầu đẹp hơn.

Để tự hào và tự đánh giá về quê hương mình, từ lâu mọi người đã truyền khẩu câu thành ngữ:

 “ ĐI ĐÂU CŨNG KHÔNG QUÊN ĐƯỢC DÃI KHOAI NINH PHÚC”.

Câu này bao hàm 2 ý:

1 - Vùng đất Ninh Phúc là nơi đất tốt dễ sinh sống, dễ trồng trọt kể cả trong lúc mùa màng thất bát, ở các vùng khác thì người ta có câu “Khỉ ho, cò gáy”, hoặc “ chó ăn đá, gà ăn sỏi”... Vậy đất Ninh phúc không lành vì chiến tranh nhưng lại dễ sống và đầy tiềm năng.

2 - Con người Ninh Phúc cũng đầy cá tính pha tính chua ngoa, tính kiêu hãnh, chơi trội, không cục bộ, không bè phái. Đây là cá tính khác biệt của đại đa số người dân Ninh Phúc so với cư dân trong vùng.

Với bề dày lịch sử văn hóa quê mình tôi tin tưởng chắc chắn rằng xã Ninh Phúc chúng tôi sẽ ngày càng giầu đẹp hơn, người dân càng tự hào hơn về truyền thống của Làng, của Xã về các giá trị văn hóa tinh thần được xây dựng qua bao nhiêu thế.

 

PHẦN II - HỌ VŨ XÃ NINH PHÚC

 

1- Khái quát

         

      Họ Vũ chúng tôi đã định cư tại xã Ninh Phúc hàng trăm đời nay, hiện không có ghi chép hay truyền khẩu nào khẳng định hay phủ định Họ Vũ chúng tôi là thành viên định cư sớm nhất hay mới đến định cư tại xã Ninh phúc, như vậy việc các thế hệ con cháu HỌ VŨ chúng tôi nối tiếp nhau sinh trưởng và phát triển  chứng minh rằng HỌ VŨ chúng tôi đã định cư sớm nhất ở xà Ninh Phúc cùng với các dòng họ khác trong xã Ninh Phúc như Họ Nguyễn; Họ Lã; Họ Dương … Hiện có vài ba Họ Vũ mới đến ngụ cư tại xã Ninh phúc là VŨ nhà Ông Đỡi (Ông Hãnh) và VŨ nhà Ông Xếnh… (mới ngụ cư được ba, bốn đời).

Trong văn hóa làng Bợi Họ Vũ chúng tôi đã có vị trí nhất định, vai vế bình đẳng với các dòng họ khác, môn đăng hậu đối với tất cả các gia đình và các  dòng họ khác.

Người Họ Vũ chúng tôi bản nhã ôn hòa, luôn vươn tới và thích làm việc thiện nhiều hơn. Trong dân gian Ninh Phúc vẫn còn lưu mãi câu vè:

 

 HAY ĂN HỌ VŨ,

 HAY NGỦ HỌ BÙI,

 THÀY DÙI HỌ NGUYỄN .

 Điều này càng khẳng định Họ Vũ chúng tôi là một trong những thành viên  định cư sớm nhất trong làng Bợi.

Là Con dân của làng Bợi, các thế hệ con cháu của Họ Vũ chúng tôi đời đời nối tiếp truyền thống văn hóa gia đình, văn hóa dòng họ và văn hóa làng Bợi, dù có đi bất cứ nơi đâu thì cũng luôn luôn tự hào về Quê h ư ơng bản quán của mình, nguyện  phấn đấu  vươn lên trong cuộc sống  để  xứng đáng với truyền thống quê hương, truyền thống dòng họ, góp sức nhỏ mọn của mình cùng nhân dân trong làng và các dòng họ khác xây dựng quê hương, xây dựng làng Bợi ngày càng giầu đẹp.

Bản năng cội nguồn đã thúc dục con cháu Họ Vũ nhiều thế hệ, nhiều lần quyết tâm tìm đến tận cùng cội nguồn của mình nhưng chưa thể tìm được chân lý. Nhiều năm trước đây tôi được biết Ông Nội tôi đã vài lần đến làng Hạ Kỳ (Hạ Cờ) – Nam Định để tìm hiểu, kết quả cũng không được mỹ mãn nên Ông tôi không có một lời nào khẳng đinh hay giáo huấn cho con cháu về vấn đề này (kể cả lúc lâm chung). Lại đến những năm 2000 nhiều người trong Họ đến làng Hạ Kỳ dự hội làng đã mang về một số tài liệu ghi chép về Họ Vũ ở làng Hạ Kỳ. Qua các tài liệu này tôi khẳng định Họ Vũ chúng tôi ở Ninh Phúc không có liên quan gì với Họ Vũ ở làng Hạ Kỳ (Truyền thuyết ở đây nói rằng Thần Hoàng Làng Hạ Kỳ có 5 người con đặt tên là: Mưa - Vũ; Gió – Phong; Mây – Vân… và có nguồn gốc là họ Phạm, Con cháu của Ngài mang tên là Vũ từ đó con cháu Cụ mang họ Vũ …đến nay cũng được năm sáu đời). Năm 2005 Tôi đã đến làng Mộ Trạch – Tỉnh Hải Dương nơi thờ cụ VŨ HỒN được coi là cụ Tổ Họ Vũ, Võ ở Việt Nam, Cụ là người Trung Quốc đến Việt Nam sinh cơ lập nghiệp trên 1200 năm nay. Hậu duệ của cụ VŨ HỒN có chung một gen học giỏi, đỗ đạt cao (có cả 1 làng tiến sỹ), giữ nhiều trọng trách trong chính triều, đến nay còn có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tiến sỹ Đặng Vũ Khiêu (Chủ biên nghiên cứu củng cố lại gia phả dòng họ Vũ Hồn và Làng Tiến sĩ Mộ Trạch – Hải Dương)…Hậu duệ của Cụ Vũ Hồn đến nay cũng sinh cơ lập nghiệp khắp mọi miền Tổ quốc. Rất tiếc tôi không mua được tài liệu nhưng tôi cũng chưa tin rằng Họ Vũ Ninh Phúc chúng tôi có từ đây vì chưa có cơ sở nào.

Họ Vũ chúng tôi không mắc các bệnh di truyền, thể chất trung bình so với dân cư trong vùng, cao to là gen trội, cá biệt có ít người nhỏ, lùn. Bản nhã ôn hòa, thiện tâm. Tuổi thọ trung bình.

 

Nhà Thờ Họ Vũ

Nhà thờ Họ Vũ chúng tôi được xây dựng tại nơi Cụ tổ định cư lập nghiệp ở xóm Đông Hạ tọa Đông, nhìn Tây, phía trước nhìn ra Dộc Đông, phong thủy đạt nét căn bản, hướng này không thay đổi cho đến tận ngày nay. Có lẽ đây không phải là hướng Nam (hướng Quý) nên trong họ chưa có người tài làm quan to hoặc có học vị cao (Thời Phong kiến chỉ có Vua chúa mới được làm nhà hướng quý để sinh Thiên tử, cấm thần dân xây nhà hướng quý). Là hậu duệ con cháu miễn bình luận và phán xét việc này mà phải công nhận đây là việc tôn thờ Tổ tiên, nếu muốn có hướng tốt về phong thủy cho các thế hệ sau thì con cháu phải dùng các giải pháp thần học hoặc khoa học khác để làm rạng danh cho dòng họ CẤM thay đổi hướng nhà thờ họ của các Cụ đã chọn khi tu sửa hay tôn tạo. Trong họ Vũ không có người làm quan to và không có người đỗ đạt cao chưa hẳn là không tốt vì cái đó tránh nghiệp trướng khi có biến động chính trị xã hội như Họ Lã trong làng đã phải cải thành Họ Điền (Họ Lã và họ Dương là 2 họ trong làng thời phong kiến có người làm quan to, có sắc phong của Vua nhưng đều gieo nghiệp trướng cho họ hàng). Điều này hậu duệ không dùng để ngụy biện cho việc học tập và lao động kém cỏi của mình, đặc biệt là từ cuối thế kỷ 20 khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, nếu không học tập thì tồn tại thực sự vất vả chứ chưa nói đến phát triển.

 Nhà thờ Họ Vũ là nơi linh thiêng để con cháu cầu cúng và không dùng làm nơi tá túc hay hoạt động dị đoan. Nhiều người trong họ còn nhớ có người do hoàn cảnh thất cơ lỡ vận phải quay về tá túc tại Từ Đường nhưng sinh hoạt bừa bãi làm uế tạp (dắt xương chó trên mái nhà) đã bị quở phạt đến lụi bại. Qua bài học này con cháu sau này cần phải tránh những điều húy kỵ, cấm kỵ tại Từ Đường.

Gần đây nhất, thể theo nguyện vọng của tất cả mọi người trong họ (đã day dứt nhiều thế hệ), đặc biệt là hai chi, con cháu đã nỗ lực đóng góp mỗi xuất đinh gần nửa chỉ vàng, cùng với đóng góp đáng kể của một số các con cháu có điều kiện người có của, người có công và sự cúng tiến của dâu, rể, nội ngoại Nhà thờ Họ Vũ vừa được trùng tu khang trang vào tháng 9 năm 2008. Với chi phí hơn 120 triệu đồng (tương đương 10 cây vàng). Theo đánh giá sơ bộ thì công trình cơ bản đạt yêu cầu về kỹ mỹ thuật và đặc biệt công trình đã thỏa nguyện con cháu, ước khỏang 5 thế hệ sau sẽ không phải lo việc sửa chữa nhà thờ họ.

 

    Cụ Tổ

Ng ười sinh cơ lập nghiệp tại xã Ninh Phúc ( Cao viễn Tổ)

Húy: Không rõ   

Tự: Việt Tảo

Thụy: Đức Luân

Sinh ngày………………………       .

Mất ngày (Húy nhật) 24 tháng 11 âm lịch

Mộ phần: Không rõ thông tin.

     Tổ Mẫu

Húy: Nguyễn Thị Phấn               

Hiệu: ………………………………………..…

Thụy: …………………….

Sinh ngày……………………………….

Mất ngày (Húy nhật) ………………....

Mộ phần: ………

 

Họ Vũ Chúng tôi bao gồm 4 chi lớn:

1 - Chi Trưởng định cư tại xóm Đào Công Thôn Phúc Trung con cháu là Ông Quyền, Ông  Tuyên; Ông Phong….đã lâu năm bỏ việc chăm sóc Từ Đường hương hỏa cho chi thứ (theo Ông bà nội tôi truyền lại).

2 - Chi thứ 2 hiện làm Trưởng họ (Trưởng chi –Trưởng họ) định cư tại xóm Vĩnh Tiến (xóm Trại) thôn Yên Phúc.

3 - Chi thứ 3 Chi là chi nhà Cụ Cụ  Ánh, Vũ Văn Nuôi, Cụ Vang, Cụ Điển ……định cư tại xóm Đông Hạ

4 - Chi thứ 4 bây giờ gọi nôm na là chi nhà Ông Phiệt Đam, gồm cả khóm nhà Ông Nhuế, Ông Bân, Ông Cư. Định cư tại xóm Đoài Hạ và xóm Đoài Thượng Thôn Yên Phúc. Chi này cũng tách họ thờ cúng riêng rất ít chăm sóc, thờ cúng ở Từ Đường. Nguyên nhân là ở chi này nhiều người đã không hiểu biết hết về xuất xứ (có cả những lý do khách quan và chủ quan), một số người ở chi này còn đang nhầm lẫn xuất xứ từ họ Vũ tại Thôn Hạ Cờ (Hạ Kỳ) – Nam Định.

5 - Do biến động chính trị (Đi đạo lấy gạo mà ăn) có 1 bộ phận nhỏ ở chi thứ 3 (Khóm Họ Vũ nhà ông Tu) bỏ họ theo đạo KYTÔ (Đạo thiên chúa) định cư tại xóm Trại Mới (xóm Nhà thờ đạo) đến nay khoảng 4; 5 đời. Thuộc chi Cụ Ánh.

          Từ khi quyền Trưởng họ chuyển về chi 2 Trưởng họ được truyền tiếp  cho con Trai Trưởng rồi các thế hệ con trai cả tiếp theo đến nay là Vũ Hồng Thiệm

Họ Vũ chúng tôi có 02 vị Tổ Cô rất thiêng. Húy của Tổ Cô là Vũ Thị QuánVũ Thị Nga. Mộ của Tổ Cô đang yên vị tại khu mộ chi 2. Điều này chứng tỏ Chi 2 kế trưởng trước Cụ Vũ Văn Nhỡ nhiều thế hệ. Trong Họ cũng còn nhiều vị Ông Mãnh linh thiêng mà con cháu chưa biết hết. Tôi biết Ông Mãnh Vũ Văn Lữ 1lần vào tr ư ớc ngày giỗ của Ông như sau:  Năm 1980 khi ôn thi chuẩn bị thi tuyến vào đại học năm đó học quá khuya tôi thiếp đi làm đổ đèn dầu cháy cả góc màn chiếu, sách vở, Cô em họ đã kịp tỉnh để hô cứu, tỉnh giấc tôi hỏi mẹ tôi có điềm gì thì mẹ tôi nhớ ra ngày mai 4/2 là ngày giỗ Ông Vũ Văn Lữ, năm đó tôi chúng tuyển vào đại học với số điểm sít sao theo quy định và hai điểm ưu tiên con liệt sỹ (điểm Tổ tiên phù hộ).

          Theo phong tục người Việt Nam thì “Con cháu ở đâu, Cha mẹ ở đó” do vậy việc 2 chi tự tổ chức thờ cúng riêng không ảnh hưởng đến việc thờ cúng chung của dòng họ, nhưng cũng đáng tiếc là mất đi một phần sự sum họp đoàn kết cả dòng họ.

Sống vi thiện tử vi thần , Liệt Tổ liệt tông Họ Vũ lúc sinh thời là những người Nông Dân lương thiện cần cù lao động, nuôi dạy con cái trưởng thành, khi về với Tổ tiên các Cụ trở thành Thần nhân trong dòng họ và trong gia đình, điển hình là các Vị Tổ Cô và các vị Ông Mãnh vẫn tiếp tục phù hộ độ chì cho chúng sinh, phù hộ độ chì cho hậu duệ thành người tốt cho cộng đồng và cho xã hội. Một điều con cháu không thể phủ nhận là có đi muôn phương thì lúc nào cũng thấy các cụ Tổ tiên ở bên cạnh phù hộ cho tai qua nạn khỏi và phù hộ cho con cháu được gặp vạn điều lành.

 

Mộ phần

Trước năm 1976 – 1977 mỗi gia đình, mỗi chi tùy theo ruộng đất hiện có và ý nguyện của người mất hoặc theo các phong tục cũng như các điều kiện chính trị xã hội khác nhau thì phần mộ các Cụ được đặt ở các vị trí khác nhau trong làng. Năm 1977 thực hiện việc quy hoạch ruộng đất của Hợp tác xã Nông nghiệp Ninh Phúc đã tiến hành quy tập tất cả mộ phần về Đĩ làng, khu đất này nằm sau chùa Lý, giáp Mả Đông mỗi chi, mỗi gia đình đều được quy hoạch một vị trí riêng để đặt mộ phần các Cụ và dành cho cả mộ phần cho con cháu sau này. Chiến tranh liên miên, và những hậu quả biến động xã hội tiêu cực một lần nữa làm xáo trộn mộ phần của Tổ tiên, một lần nữa con cháu lại để thất lạc nhiều mộ phần của các Cụ mặc dù đã được quy tập. Tất cả mộ phần các Cụ đã được quy tập về khu vực quy định nhưng rất nhiều ngôi mộ không xác định được đích danh nhất là các ngôi mộ các Cụ bà. Theo quy hoạch mỗi chi có một khu vực riêng không liền nhau, đến nay các chi đều tu tạo cho khu mộ của Chi mình tương đối khang trang và sạch đẹp, những người đã mất đều được mồ yên, mả ấm.

* Tên khu đất này là Lũy Làng nhưng theo cách nói dân dã của dân trong xã thì goi là Đĩ Làng

 

2 - Việc thờ cúng

          Việc thờ cúng Cha mẹ, Ông bà, Tổ tiên của ng ư ời Việt Nam đã trở thành gần nh ư một tôn giáo trên c ơ sở thấm nhuần Phật giáo và tiếp thu đầy đủ các triết lý minh chính của Đạo giáo và Nho giáo, con cháu họ Vũ cũng vậy, cũng xác định việc thờ cúng Tổ tiên Ông bà, Cha mẹ là một phần trong cuộc sống của mình.

Trưởng họ có quyền và trách nhiệm chính trong việc thờ cúng Tổ tiên, trông coi quản lý toàn diện việc thờ cúng và việc Họ, nhà thờ Họ. Không rõ nguyên nhân chủ quan hay khách quan mà Chi Trưởng bỏ việc Trưởng họ và chi 2 đảm  nhiệm việc Trưởng họ từ khi nào. Theo tôi Chi 2 đảm nhiệm Trưởng họ chắc chắn phải trước thế hệ Cụ Vũ Văn Nhỡ ít nhất là hàng chục thế hệ (Vì không thể nhầm lẫn khi cưới hỏi cho con trai là Cụ Vũ Văn Thiện nếu trước Cụ Vũ Văn Nhỡ quan hệ họ hàng mới chỉ có dưới chục đời, lại sống chung làng). Trưởng Họ theo tục lệ được truyền đương nhiên cho con trai cả (trưởng thành, không phải là người xấu số) và cháu đích tôn. Trường hợp không có cháu đích tôn thì cháu trai cả của con trai thứ giáp con trai cả sẽ kế Trưởng.

Vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước Cụ Vũ Văn Quyến (ở Chi 2) là Trưởng họ do sức khỏe ngày càng kém, con trai duy nhất là Vũ Văn Dưỡng lại hy sinh 1965, cháu Vũ Hồng Thiệm là cháu Đích Tôn còn nhỏ lại đi học xa đã thống nhất cùng các Cụ cao niên trong họ quyết định:

-         Để Cụ Vũ Văn Ánh (ở chi 3) giúp Họ làm nhiệm vu trông coi hương hỏa ở Từ Đường. Không rõ từ lúc nào ai đó đã gắn cho cụ chức  danh Tộc trưởng ( một chức danh trong thời Pháp thuộc gọi là Trưởng Hội đồng Tộc biểu, không phải là Trưởng họ).

-         Do gần nhà Thờ giao cho Cụ Vũ Văn Ánh là người chính trong việc quản lý và chăm sóc hương hỏa ở Từ Đường, có quyền lợi , nghĩa vụ và trách nhiệm rõ ràng (rất tiếc là không lập thành văn bản) như việc trồng cấy thu hoạch để có lâm lộc trong vườn, dọn dẹp, đèn nhang, quyên góp, thông tin, thông báo việc họ, tiếp con cháu và khách đến thắp nhang….Sau khi Cụ Ánh qua đời cả Họ lại thống nhất giao việc này cho con trai Cụ Ánh là Ông Vũ Văn Bang.

Tôi xin giải thích rõ chức danh Tộc trưởng là vì có 1 ghi chép không chính thống (ghi trên cánh của gỗ) “Ông Vũ Văn Bang – Tộc trưởng…”.  t ừ đó mọi người mặc nhiên công nh ận có chức danh Tộc trưởng từ Cụ Ánh rồi đến Ông Bang . Tôi giám chắc rằng khi các Cụ giao việc chăm sóc Từ Đường cho Cụ Ánh không hề có chức danh Tộc trưởng gắn cho Cụ Ánh vì:

+  Lúc Cụ Ánh còn sống không ai gọi Cụ Ánh gắn với chức danh tộc trưởng.

+ Việc ghi chép này chỉ có trên cánh cửa gỗ của Từ Đường sau khi cụ Ánh mất gần chục năm (Lần tu tạo thứ 2 kể từ khi cụ Ánh Mất)

+ Việc ghi chép cẩu thả trên lại ghi ngay trên cánh cửa Từ Đường nên giá trị và hiệu quả tuyên truyền rất lớn và tự nhiên nó đi vào ý thức của nhiều người và từ đó ngược lên trên thì Cụ Ánh cũng là Tộc trưởng

Như vậy mọi người hiểu đơn giản Ông Bang được phụ trách việc chăm sóc hương hỏa ở Từ Đường nên Ông Bang là Tộc trưởng tức Trưởng họ là sai nhưng Ông Bang cũng có quyền nhất định trong việc họ (như trên đã nói).

Bây giờ mọi người phải hiểu cho đúng chức danh Tộc trưởng của  Cụ Ánh và Ông Bang được nhiều người trong họ  phong cho để ghi nhận sự đóng góp công sức và tâm phúc cho Họ hàng cũng coi là được nhiều nhẽ chứ không phải là Trưởng Họ.

Hiện nay trong Họ Vũ người có quyền cao nhất là Mẹ của Trưởng Họ (Bà Dưỡng), tiếp đến là Trưởng Họ (Vũ Hồng Thiệm) rồi Tộc trưởng (Vũ Văn Bang) Các quyết định, quy định của Họ, nghị quyết họp họ chỉ có giá trị khi sự thống nhất của Trưởng Họ hoặc (Bà Dưỡng) và Tộc trưởng, trường hợp không thống nhất thì ý kiến của Trưởng Họ là ý kiến quết định. Theo tôi sau này do điều kiện công tác xa xôi của con cháu đặc biệt là Trưởng Họ không thường xuyên ở gần Từ Đường thì nên duy trì nguyên tắc thống nhất giữa Trưởng Họ và Tộc tr ư ởng để giải quyết việc Họ, khi không thống nhất thì ý kiến Tr ư ởng Họ là ý kiến quyết định, để Từ Đ ư ờng Họ Vũ lúc nào cũng ngát hương khói cho con cháu được hưởng phúc ấm.

Việc thờ cúng là tự do song cũng có luật lệ riêng mà người cúng phải tuân thủ:

- Nơi thờ cúng phải là nơi trang trọng nhất trong nhà, không bầy biện các vật dụng khác ngoài đồ thờ cúng lên bàn thờ.

- Khi đứng trước bàn thờ để thực hiện nghi lễ phải ăn mặc chỉnh tề, nghiêm túc và thành tâm.

- Quan điểm Con cháu ở đâu Cha mẹ ở đó có nghĩa là con cháu được thờ cúng cha mẹ, Ông bà tại tư gia của mình. Vậy khi con cháu mất thì các Cụ về đâu? Theo tôi đó là Từ Đường.

- Sẩy vai xuống vế có nghĩa là con trai con của em trai giáp Bác bị phạt tự phải thờ cúng, giỗ chạp Bác. Vậy trong trường hợp cá biệt không Vế hoặc mất Vế thì lại chuyển về Từ Đường. Nói tóm lại ta được Tổ tiên, Cha mẹ sinh ra khi chết ta lại được về với Tổ tiên.

- Đồ cúng lễ phải thanh tịnh, giửa sạch sẽ trước khi bày lên bàn thờ, lộc sau khi cúng được phân phát cho con cháu không nên hưởng một mình….

-         Không trọng phú khinh bần, trong điều kiện vật chất khó khăn con cháu chỉ cần có nén nhang và chén nước dâng lên cúng các Cụ là được. Trách người không lễ chứ không trách người lễ mọn. Con cháu sẵn lòng đón khách ngoài họ đến dâng hương cúng Tổ tiên.

-         Việc tiến cúng Tổ tiên ngoài quy định của xuất đinh không hạn chế việc tiến cúng. Con cháu ghi nhận tất cả tấm lòng của mọi người tiến cúng và được ghi lại bằng văn tự cho hậu duệ biết.

Như vậy việc thờ cúng Tổ tiên, Ông bà, Cha mẹ là quyền tự do của mỗi người, có thể thực hiện tại gia, tại Từ Đường, hoặc tại Chùa, Đền… Nhưng việc chăm sóc hương hỏa ở Từ Đường vẫn phải được đặt lên hàng đầu, là trách nhiệm, quyền lợi và là nghĩa vụ của hậu duệ mới tròn đạo hiếu thảo và được hưởng lộc và phúc ấm của Tổ tiên.

 

 

3 - Việc đặt tên con cháu

Nhờ lộc Trời đất và nhờ phúc ấm của Tổ tiên Con cháu Họ Vũ ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và tố chất, ấm no hạnh phúc nhưng để thêm phần phúc ấm thì việc dạy con cái phải cần tránh phạm Húy các Cụ. Vì nếu phạm húy các Cụ trong họ sẽ làm giảm phần thần của con cháu và phần thần của các Cụ. Trước khi đặt tên con, cháu cần phải xem xét lại cây phả hệ, như vậy việc ghi chép không đầy đủ sẽ rất phức tạp cho con cháu sau này, thậm chí còn có thể gây mất đoàn kết trong họ. Tôi đã biết có trường hợp họ Nguyễn ở Đoan Phượng Hà Nội, mặc dù Gia phả được ghi chép rất cẩn thận (Cây phả hệ ghi đến 17, 18 đời) nhưng có sự sai sót do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến trong họ có 2 trưởng họ vì 2 Cụ trùng tên nhau, mất đoàn kết (Hận thù nhau vì con tôi là Cụ của Ông). Vậy con cháu cần phải biết cây phả hệ của Họ hàng để tránh đặt tên con cháu trùng tên Húy của thế hệ trước và trùng tên nhau.

 

4 - Cây Phả hệ

 

Do hiểu biết không t ườ ng tận mỗi gia đình, mỗi chi nên lập riêng cho mình một cây phả hệ để tập hợp thành cây phả hệ cho cả họ, nếu còn chỗ nào thiếu sót mong Liệt Tổ, Liệt Tông vạn xá và con cháu sẽ tiếp tục hoàn chỉnh. Sơ lược như dưới đây:

 

 

Cụ Tổ: Vũ Văn Tá

Tổ Mẫu: Không rõ tên

 

   

Cụ Tổ chi 1

Cụ Tổ chi 2:

Cụ Tổ chi 3

Cụ tổ chi 4

Cụ Bà:

Cụ Bà:

Cụ Bà:

Cụ Bà:

 

          Hiện nay Ông Bang đang có trong tay một ghi chép (không rõ của ai) về những ngày húy nhật ở Từ Đường. Trong đó  ghi Húy nhật Cụ Vũ Văn Tá là ngày 24/11 âm lịch. Trong đó còn ghi Cụ Vũ Văn Tá có 6 người con 3 trai, 3 gái.

- Người con trai thứ nhất thì do chi: Ông Vũ Quyến giỗ chạp.

- Người con trai thứ hai thì do chi: Ông Vũ Tuyên giỗ chạp.

- Người con trai thứ ba thì do chi: Ông Vũ Iểng giỗ chạp.

Như vậy vẫn còn nhiều vấn đề hậu duệ phải tìm hiểu. Việc ghi chép của tôi hay của bất kỳ ai nếu không chính xác hoặc chưa chuẩn xác mà viết dạng khẳng định sẽ có tội với Tổ tiên và làm khổ hậu duệ, cũng chính vì lý do này trên cơ sở khiêm tốn và chưa biết tường tận tôi viết chủ yếu về chi 2 từ đời cụ Vũ Văn Nhã (Nhỡ) là chính.

 

GIỚI THIỆU ĐIỀU KHOẢN LIÊN HỆ GÓP Ý SITEMAP
© 2005 - 2008. Bản quyền thuộc N.V.S - Phahe.vn