TRANG CHỦ QUẢN LÝ
PHẢ HỆ TƯỞNG NIỆM CÁO PHÓ KIẾN THỨC HƯỚNG DẪN DỊCH VỤ
LIÊN HỆ SITE MAP
Chức năng
Thông tin chung
Lời mở đầu
Phả ký, khởi tổ
Hương hoả
Thủ tục, quy ước
Tin tức, bài viết
Thông báo giỗ
Album ảnh
File tư liệu
Phả đồ
Quỹ dòng họ
Sự kiện dòng họ
Tin tức - Bài viết
Hoạt động dòng họ
Tư liệu lịch sử
Văn hóa, nghệ thuật
Nhân vật tiêu biểu
Ban liên lạc dòng họ
Thông tin liên hệ
Họ tên: Lều Thị Thu Hải
Email: leuthuhai@gmail.com
Điện thoại: 66603080
Địa chỉ: 4/41/ngõ Thái Thịnh 1/Đống Đa/Hà Nội
Sự kiện dòng họ
July, 2014
 
Mon Tue Web Thu Fri Sat Sun
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31
   Ngày có sự kiện Xem tất cả
Today: 31/07/2014


Phả hệ họ Lều
Thông tin chung >> Tin tức bài viết
Lịch sử họ Lều
  • Lịch sử họ Lều
Hậu Duệ Nhà Mạc


Biên soạn theo Hợp biên thế phả họ Mạc (NXB Văn hoá dân tộc - 2001) và Gương sáng dòng họ, 2 tập (NXB Lao Động - 2002, 2004)


350 con cháu nhà Mạc bị nhà Thanh giao cho triều Lê về sau trở thành người dân tộc thiểu số, sống rải rác khắp các tỉnh vùng Việt Bắc, mang họ Mạc, Mai, Ma, Bế... Nhưng hậu duệ nhà Mạc ở những tỉnh đó không chỉ là con cháu 350 người này vì rất nhiều người đã không theo Mạc Kính Vũ chạy sang Trung Quốc. Họ ở lại và thay tên đổi họ nên hiện nay nhiều người Tày ở đây lại mang những họ của người Kinh như: Lê, Đàm, Nguyễn...


ở trang Hùng Khê, nay là thôn Câu Tử, xã Hợp Thành, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng có một chi họ Mạc ngay khi họ Mạc bị săn lùng ráo riết vẫn được yên ổn và giữ nguyên họ Mạc từ đấy đến nay. Ninh vương Mạc Phúc Tư là thuỷ tổ của chi họ này. Nguyên là năm 1573, con Mạc Phúc Tư là Mạc Đạo Trai theo quân vào đánh Thanh Hoa chẳng may bị bắt. Trịnh Tùng muốn dùng ông để đánh đòn tâm lý vào nhà Mạc nên gả con gái là Trịnh Thị Nhân cho. Tuy nhiên Đạo Trai đã tự sát. Trịnh Thị Nhân giữ tiết không tái giá, vì không có con nên xin người cháu gọi chồng là chú làm con nuôi; người này về sau đưa mẹ về Hùng Khê phụng dưỡng, con cháu do vậy vẫn được giữ họ Mạc và hậu duệ còn đến ngày nay.

Con cháu nhà Mạc quyết chiêu tuyết cho nỗi oan lịch sử của hàng triệu con người nên đã đề ra nguyên tắc “biến dị nhi đồng” và nghĩ ra những quy định để sau hàng trăm năm dù ở đâu và mang những họ khác nhau, vẫn nhận ra nhau cùng chung nguồn gốc:


- Do chữ Mạc có bộ “thảo đầu” nên họ quy định “Khử túc bất khử thủ” (bỏ chân không bỏ đầu), từ đó đổi sang những họ trong chữ Hán cũng có “thảo đầu” như: Hoàng, Cát, Lê, Thái, Phạm, Lều...

- Hoặc giữ lấy chữ “Đăng” làm tên lót, hình thành các họ Lê Đăng, Hoàng Đăng, Phạm Đăng, Phan Đăng, Bùi Đăng, Thạch Đăng...


- Hoặc lấy theo họ mẹ, như Bùi ( tổ là Mạc Phúc Đăng - con Mạc Phúc Hải và Quý phi Bùi Thị Ban), họ Đặng (tổ là Mạc Mậu Giang - con Mạc Mậu Hợp và Quý phi Đặng Thị Xuân) ...


Họ Phạm ở phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định tổ là Mạc Đăng Thận, cháu 4 đời của Mạc Đăng Dung đổi thành Phạm Đình Trú, ra đi từ Cổ Trai đã mang theo thanh đao của Mạc Thái Tổ, hiện còn thờ ở từ đường họ. Mạc Bia, hậu duệ của Mạc Kính Điển hiện sống ở Mỹ còn giữ được quả ấn của nhà Mạc.


Họ Vũ Tiến ở xã Đồng Xuân, huyện Đông Hưng, Thái Bình vào năm 1994 tu tạo từ đường, khi cạo lớp vôi tường đã vô tình làm lộ ra đôi câu đối chữ Hán, đại ý: “Gia thế cho hay rằng là con cháu của Trạng nguyên họ Mạc đời Trần (Mạc Đĩnh Chi) / Tộc phả lưu truyền rằng vốn quê ở Đông Hải, quận Thanh Hà dời san”. Họ Nguyễn Phương ở Thanh Chương, tỉnh Nghệ An thờ tổ là Mạc Mậu Giang, con vua Mạc Mậu Hợp có đôi câu đối truyền đời: “Phúc khánh Đại Đồng, thực lạc nhất thành Chân Cảm / Gia đình Yên Lạc, toàn bằng tiên tổ Chí Linh”, nội dung khá bí hiểm nhưng điều chính là ghi lại những nơi Mậu Gang đã đi qua trên đường lánh nạn, từ đó muốn con cháu lần về gốc: Đại Đồng, Chân Cảm, Yên Lạc và quê gốc là Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Dương Bá Cung, người đã viết thế phả họ Lều vào năm Tự Đức thứ 6 (1853) nói: “Tổ tiên họ Mạc đến đầu thời Lê trung hưng đôỉ thành họ Lều, giữ lại bộ thảo đầu để khỏi lẫn với họ khác”. Gia phả họ Phạm ở Cao Sơn, xã Thái Hoà, huyện Thái Thuỵ, Thái Bình đã viết sự tích dòng họ mình thành thơ cho dễ nhớ: “Tổ tiên ta xưa kia là họ Mạc/ ở huyện Hoành Bồ thuộc tỉnh Quảng Yên...Để giấu che tung tích tránh nguy cơ/ Bỏ họ Mạc đổi thành họ Phạm...”. Gia phả họ Trần ở xã Tạ Xá, tổng Cao Đôi, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương nay câu đầu có viết: “Xưa họ Mạc đến Hiển tổ ta bắt đầu đổi sang họ Trần cho theo đó chưa đổ lại họ. Người có gốc như cây có gốc, nước có nguồn. Cái lý đó há nỡ lòng quên...”. Tộc phả Lê Đăng ở thôn Phương La Đông, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở đầu: “Gốc họ Lê Đăng chính là Mạc Đăng”...


Có những người để ra hàng chục năm trời đi khắp nơi để “vấn tổ tầm tông” vào những năm đường sá, xe cộ còn hết sức khó khăn; có những cụ già cuối đời dứt khoát tìm về Cổ Trai viếng thăm đất tổ rồi mới chịu nhắm mắt xuôi tay...


Con cháu nhà Mạc nhờ vậy sau hàng trăm năm vẫn nhận ra nhau và hàng năm cứ đến ngày 22 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ Mạc Thái Tổ, lại từ khắp nơi về thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng lễ tổ và họp mặt và cứ 5 năm lại là đại giỗ. Bên cạnh đó, dịp kỷ niệm ngày mất của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, 28 tháng 11 âm lịch, cũng là dịp con cháu nhà Mạc trên Cao Bằng xuống xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng dâng hương tỏ lòng biết ơn Trạng đã giúp họ tồn tại đến ngày nay.


Điều kỳ diệu nhất là đôi câu đối tương truyền là sấm Trạnh Trình:“Tứ bách niên tiền chung phục thuỷ/ Thập tam thế hậu dị nhi đồng” (Bốn trăm năm trước, cuối cùng trở lại như ban đầu/ Mười ba đời sau, khác biệt mà vẫn chung). Tính ra, từ năm 1592 khi Mạc Mậu Hợp bị bắt, đến năm 1992 là năm các nhà khoa học lịch sử bắt đầu có những ý kiến đánh giá lại nhà Mạc một cách công bằng hơn, thoát khỏi sự lệ thuộc vào quan điểm của sử thần nhà Lê và Trần Trọng Kim, đúng là tròn 400 năm. Đặc biệt, sau cuộc Hội thảo khoa học về Vương triều Mạc tổ chức tại huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng, ngày 18/7/1994, việc sưu tầm tài liệu về họ Mạc được các Ban liên lạc họ Mạc ở nhiều nơi quan tâm.


Đến ngày 30/6/2000, Ban liên lạc họ Mạc ở Hà Nội đã lập được danh sách 369 chi họ Mạc và chi họ gốc Mạc ở 25 tỉnh, thành phố (xếp theo A,B,C):


1. Bắc Giang 11 chi họ: Mạc, Hoàng, Nguyễn, Đào Đăng, Đặng, Phạm, Trần.

2. Bắc Ninh 5 chi họ: Lê Đăng, Đoàn, Hán, Mậu, Lê Đăng.

3. Bình Định 3 chi họ: Mạc.

4. Bình Thuận 1 chi họ: Huỳnh Công Triều.

5. Cao Bằng 15 chi họ: Mạc, Hoàng, Bế, Vương, Phạm Đăng, Mai, Đinh, Mạc Ngọc.

6. Đồng Nai 1 chi họ: Bùi Thái.

7. Hà Nam 3 chi họ: Hoàng, Mạc, Văn.

8. Hà Nội 5 chi họ: Thạch, Phương Đình, Phương Văn.



9. Hà Tây 13 chi họ: Bùi Trần, Lều, Cát, Mạc, Liêu, Hoàng, Phùng, Lê, Chu, Phương (gồm Phương Văn, Phương Đăng, Phương Đình, Phương Công), Nguyễn Đăng, Trần Đăng.



10. Hà Tĩnh 28 chi họ: Phạm Công, Phạm, Phạm Bá, Thái Văn, Phạm Viết, Phạm Văn, Bùi, Hoàng Văn, Thái, Phan, Thái Xuân, Thái Khắc, Thái Văn, Phạm Quốc, Phạm Cao, Phan Đình, Hoàng, Hoàng Văn, Hoàng Xuân, Phan Đăng, Phan Văn, Phan Viết, Bùi Đình.


11. Hải Dương 25 chi họ: Mạc (18 chi họ), Nguyễn, Trần, Đặng, Nguyễn Thế.


12. Hải Phòng 4 chi họ: Mạc, Khoa (tức Hoa), Phạm, Hoàng.

13. Hưng Yên 3 chi họ: Mạc, Phạm.

14. Nam Định 11 chi họ: Hoàng, Bùi, Phạm.

15. Ninh Bình 4 chi họ Phạm.

16. Nghệ An 182 chi họ: Với 5 phái hệ chính:



(1) Phái hệ Phó quốc vương Mạc Đăng Lượng 8 chi họ: Hoàng Trần, Hoàng Văn, Hoàng Bá, Hoàng Sĩ, Hoàng Văn, Lê Đăng.


(2) Phái hệ Thế tử Mạc Mậu Giang 14 chi họ: Nguyễn Phương, Hoàng Văn,

Nguyễn Trọng, Phạm Đình, Phan, Phan Văn, Phan Sĩ, Phan Văn, Phan Đăng.


(3) Phái hệ Thế tử Mạc Đăng Bình 38 chi họ: Thái Doãn, Thái Khắc, Thái Hồng,

Thái Văn, Thái Bá, Thái Đắc, Thái Đình, Thái Đạo, Thái Duy, Thái Bá, Thái Huy

.

(4) Phái hệ hậu duệ Mạc Kính Vũ 6 chi họ: Phạm Ngọc, Phạm Văn, Phạm Bá.

(5) Các phái hệ khác 117 chi họ: Hoàng, Hoàng Văn, Hoàng Đăng,

Hoàng Thế, Hoàng Đức, Hoàng Đình, Hoàng Khắc, Hoàng Ngọc, Hoàng Duy,

Hoàng Như, Hoàng Kim, Thái, Thái Hữu, Thái Văn, Phạm, Phạm Hồng, Phạm

Viết, Phạm Văn, Phạm Đình, Phạm Bá, Phạm Xuân, Phạm Hữu, Phạm Trọng,

Phan, Phan Đình, Phan Hữu, Bùi Đình, Bùi Văn, Bùi, Bùi Gia, Bùi Thái, Bùi

Công Trần, Lê, Lê Đức, Nguyễn Văn, Nguyễn Xuân, Nguyễn Quốc, Mạc, Cao

Thái, Hồ Đăng.



17.Quảng Bình 2 chi họ: Hoàng, Phạm Bá.



18. Quảng Nam 5 chi họ: Hoàng, Huỳnh, Huỳnh Phương, Nguyễn Trường, Mạc Nguyễn Trường.



19. Quảng Ngãi 4 chi họ: Huỳnh, Phạm, Bùi.



20.Quảng Ninh: 3 chi họ Mạc.



21. Thái Bình 22 chi họ: Hoàng, Phạm Văn, Phạm Ngọc, Phạm Đăng, Phạm, Phạm Đình, Phạm Ngụ, Phạm Xuân, Phạm Chi, Thái Văn, Bùi Đăng, Bùi Đình, Lều Văn, Khổng, Nguyễn Doãn, Nguyễn Công, Vũ Tiến, Vũ Như, Tô, Đỗ, Lê Đăng.



22. Thái Nguyên 4 chi họ: Mạc, Nông, Đoàn.



23. Thanh Hoá 10 chi họ: Hoàng, Hoàng Viết, Hoàng Trịnh, Lê Đăng, Đỗ, Tô, Phạm.



24. Vĩnh Phúc 4 chi họ: Chữ, Hoàng, Nguyễn, Nguyễn Đăng.



25. Yên Bái 1 chi họ Mạc.



*



Rất nhiều người họ Mạc và gốc Mạc là những nhân vật nổi tiếng, như:



- Hoàng Diệu (1829 – 1288), Tổng đốc Hà Nội 1880 - 1882, hy sinh tuẫn tiết khi Pháp đánh thành Hà Nội năm 1882.



- Đốc Tít (1855 – 1912), còn gọi là Đốc Tích, Đốc Tiết, tên thật là Mạc Đăng Tiết, một trong những thủ lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật. Năm 1889 bị Pháp bắt đưa đi đày ở Angiêri.



- Mạc Đĩnh Phúc (? – 1897), còn gọi là Nguyễn Khắc Tỉnh, cùng Kỳ Đồng chống Pháp, bị giặc bắt và tử hình năm 1896.



- Phạm Hồng Thái (1895 – 1924), mưu giết toàn quyền Meclanh tại khách sạn Victoria, Quảng Châu, ngày 19/6/1924 không thành, nhảy xuống sông tự vẫn, mộ đặt ở nghĩa trang Hoàng Hoa Sơn cùng 72 liệt sĩ Cách mạnh Tân Hợi. Thuộc phái hệ Mạc Mậu Giang (con thứ 17 của Mạc Phúc Nguyên), đổi sang họ Phạm từ thời Mạc Mậu Linh.



- Lê Hồng Sơn (1899 – 1933), người được giao nhiệm vụ bảo vệ cho Phạm Hồng Thái. Sau là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, bị Tưởng Giới Thạch bắt giao cho Pháp và bị kết án tử hình năm 1933. Cháu 11 đời của Mạc Đăng Lượng.



- Phan Đăng Lưu (1902 – 1941), một trong những lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam, bị bắt cùng Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập... trong khởi nghĩa Nam Kỳ và hy sinh năm 1941. Cháu 14 đời của Mạc Huyền Nhai.



- Lều Thọ Nam (1909 – 1934), cùng Trường Chinh tham gia Thành uỷ lâm thời Hà Nội trước năm 1930, phụ trách giới học sinh. Bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo, vượt ngục và hy sinh năm 1934. Thuộc phái hệ Mạc Phúc Trì (cháu Mạc Mậu Hợp). Nhà Mạc thất thế, Phúc Trì chạy về phủ Thường Tín, trấn Sơn Tây và đổi thành họ Lều.



- Phạm Kiệt (1910 – 1975), chỉ huy đội du kích Ba Tơ, sau là trung tướng CAND Việt Nam. Thuộc phái hệ Mạc Đăng Dinh.



- Chu Thiên (1913 – 1992), nhà sử học, nhà văn, tác giả tiểu thuyết Bóng nước hồ Gươm.



- Mai Trung Lâm (1914 – 2000), dân tộc Tày, vào Đảng từ 1932, tiểu đội trưởng trong Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, sau là thiếu tướng QĐND Việt Nam.



- Hoàng Kiện (1915 – 2001), tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 ở Huế, sau là Trung tướng QĐND Việt Nam.



- Dương Mạc Thạch (1915 – 1979), dân tộc Tày, vốn họ Mạc (cha là Mạc Văn Tân), vì ở rể nên theo họ Dương, giữ chữ Mạc làm tên đệm. Chính trị viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, bí danh Xích Thắng; Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang (1951- 1971). Con là Dương Mạc Thăng, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Cao Bằng, Đại biểu Quốc hội khoá 10.



- Mạc Thị Bưởi (1927 – 1951), Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Pháp.



- Hoàng Hanh (1893 – 1963), Anh hùng Lao động trong kháng chiến chống Pháp. Thuộc phái hệ Mạc Đăng Lượng.



- Phạm Thiều (1904 – 1986), cùng với Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy là những người đầu tiên được Nhà nước phong học hàm Giáo sư, từ năm 1946.



- Hoàng Tụy (sinh 1927), giáo sư toán học, Viện trưởng Viện toán học Việt Nam.



- Hoàng Phê (sinh1932), giáo sư ngôn ngữ học, Viện trưởng Viện ngôn ngữ; em ruột Hoàng Tuỵ.



- Hoàng Lê (sinh 1932), giáo sư, tiến sĩ. Trưởng ban liên lạc họ Mạc tại Hà Nội, chủ biên bộ sách “Gương sáng dòng họ”. Thuộc phái hệ Mạc Đăng Khuê.



- Vũ Đình Cự, giáo sư, tiến sĩ vật lý, nguyên Phó chủ tịch quốc hội.



- Mạc Đường, giáo sư.



- Hồng Đăng (sinh 1936), nhạc sĩ. Tên thật là Phan Đăng Hồng, nguyên Phó tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam, cháu ruột Phan Đăng Lưu.



- Phan Đăng Nhật, giáo sư, tiến sĩ.



- Hoàng Trần Cương (sinh 1948), nhà văn.

Hải Phòng, tháng 8 - 2006

tháng 4 - 2007

Bùi Mạnh Quỳnh (Theo Tiểu thuyết lịch sử của Lưu Văn Khuê)

Thông tin người gửi : lều sinh công
Phả hệ họ LỀu ( 3/11/2010 1:23:55 PM )
Tôi là Lều Thọ Đức ( thôn Nhị Khê ) HN
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
<> ( 9/11/2010 1:55:35 PM )
Lều Mạc Công Hưng
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
con cũng họ Lều.. ( 11/9/2010 6:23:34 PM )
con cũng họ Lều o tphcm, lều ngọc thủy, o tp hcm chẳng thấy ai họ Lều.. email leungocthuy@yahoo.com
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
^^ ( 1/3/2011 11:57:57 PM )
Lều Thị Thu Trang - 20t- TP Hưng Yên ^^
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Mình cũng họ Lều nè! ( 3/16/2011 6:23:20 PM )
Mình chỉ biết phả hệ từ thời ông nội thôi!trước đó thì chịu...!
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tui cũng họ Lều luôn! ( 3/16/2011 6:30:14 PM )
Tôi ở thôn An Chiểu,xã Liên Phương,huyện Tiên Lữ,Tỉnh Hải Hưng (nay là thành phố Hưng Yên).email blubee1982@yahoo.com.vn
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Lều Mạnh Hùng - Xã Liên Phương- TP. Hưng Yên-T.Hưng Yênn ( 5/18/2011 10:48:03 AM )
Ở Liên Phương hiện theo các thông tin chúng tôi năm bắt được thì tôi là thế hệ thuộc đời thứ 15 của cụ Lều Tam Lang, có mộ chí tại địa phương. tại Liên Phương nơi Ông nội tôi ở trước đây địa danh này tôi thấy các cụ có gọi là Hạ Thôn ( Làng Hạ), hiện tại còn ngôi đình + chùa Hạ. Tôi không có nhiều thông tin khác, vì vậy rất mong được Ban liên lạc Lều Mạc Tộc, các anh em, con cháu của dòng họ cung cấp thêm thông tin nếu có gì liên quan đến việc di chuyển của các cụ từ nơi nào đó đến địa danh trên đây, để chúng tôi liên hệ tìm xa hơn về cội nguồn dòng họ. Tôi xin trân trọng cảm ơn với tất cả các thông tin liên quan. Địa chỉ của tôi: ĐTDĐ - 0988220890 Email: Hungtvhy@gmail.com
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
( 11/27/2011 7:06:28 PM )
tui cũng họ lều
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tôi cũng họ Lều nè ( 12/6/2011 7:49:33 PM )
tôi là: Lều Huy Nghị quê quán: Vĩnh Thịnh- Vĩnh Lộc - Thanh Hóa tôi đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội email: huynghi200686@gmail.com
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
TUI KUNG HO LEU ( 4/10/2012 8:50:05 AM )
O CA MAU
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
( 7/26/2012 1:55:16 AM )
LỀU THỌ MINH 1989 ở HN làm quen mg....yh congtu_hotboyh2t@yahoo.com
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
leu van long ne??giao thuy nan dinh ( 3/19/2013 9:36:10 PM )
DT:0902067831
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Lều Việt Cường ( 10/19/2013 12:44:58 AM )
Ai họ Lều chơi facebook xin vào đây giao lưu nhé https://www.facebook.com/groups/161373777358439/
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tiêu đề  
Nội dung  
 
BÀI TIẾP THEO



Hôm nay: 31/7/2014
Đăng nhập
Tên  
Mật khẩu  
Đăng nhập
     Đăng ký | Quên mật khẩu
Tin bài mới nhất
- Gốc họ Lều ở Nhị Khê - Thường Tín nhưng sống ở Đan Phượng
- cập nhật gia pha ho Lều
- can mot coi nguon
- Lều Tộc - "Cần một người đứng lên"
- Mẹ cháu họ Lều
- gia đình con họ Lều Hữu
GIỚI THIỆU ĐIỀU KHOẢN LIÊN HỆ GÓP Ý SITEMAP
© 2005 - 2008. Bản quyền thuộc N.V.S - Phahe.vn