Vào thập niên 60 -70
tôi
còn nhớ Họ Lê Văn của chúng tôi có 10% theo Kitô giáo 30% theo Phật Giáo số còn lại thờ ông bà
hoặc
thờ đa thần.Tôi có ông nội chú tên Lê Hoàng hay còn gọi ông là
Hương Thám ,ông thuộc hàng giáo phẩm Công giáo đáng kính của
một địa phương nằm vùng trung du Quảng Nam có tên Bình Yên thuộc
huyện Quế Sơn như tên gọi “Nhứt nhựt phi chinh chiến
(
một ngày không có chiến tranh...
)
”
Cứ vào ngày lễ Thanh minh tộc Lê Văn, ông lại về quê Điện Quang
trước đó ba ngày để lo chuẩn bị việc tế lễ Họ tộc, những
ngày ông ở lại liên tục họp hội với những thành viên gia tộc,
ý kiến của ông luôn được mọi người lắng nghe
và
xem là chuẩn mực khi thực hiện, đối với con cháu lúc nào ông
cũng khuyên bảo lo hiếu thảo với cha mẹ và tôn kính ông bà và
cố gắng học giỏi. Sau khi mọi thứ xong xuôi, ông lại lên đường
về lại Bình Yên. Thời điểm đó tôi chỉ vừa lên bảy tuổi,suy
nghĩ sâu xa lắm về ông thì tôi không hiểu... Nhưng từng cử chỉ
của ông đáng kính làm sao ấy! Ông mặc áo choàng đen, mang giày
đen, bít tất trắng, thanh thản đi qua vườn cây ăn trái của ông
nội tôi xa dần xa dần... Trận lụt năm Thìn 19
65 khiến hàng ngàn người chết tại miền trung Việt Nam xứ Bình Yên gần như bị xoá trắng vì cơ
n
lũ
, tôi đã không thấy ông về những lần Thanh minh sau đó.
Ông nội chú của tôi cũng di về co
̃
i
vĩ
nh hằng
...
Tuy đã lâu lắm
rồi nhưng hình ảnh ông vẫn in sâu trong ký ức mãi đến bây giờ,
bỗng dưng tôi có thiện cảm với người Công giáo từ đó, ...
Để trong họ tộc luôn đoàn kết gắn bó cùng cộng đồng bất kể tôn giáo nào thì họ tộc vẫn luôn tồn tại. Theo
Norberto
lý giải có hệ thống từ kinh thánh
như sau:
“
Kinh thánh đã nêu lên điều răn của Thiên Chúa: "Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi..." (Xh 20,12)
Điều răn này được
ghi trong Luật của ông Mô-sê. Chúa Giêsu đã nhắc lại điều răn ấy và
trách các kinh sư và biệt phái là đã không tuân giữ hẳn hoi (x. Mt
15,3-9).
"Thờ cha, kính mẹ", trong tiếng Do-thái (kabad), có nghĩa là "tôn vinh cha mẹ", vì cha mẹ là hình ảnh
của Thiên Chúa, Đấng mà Kinh thánh trình bày như là người cha (Hs 11,1-4 ; Is 1,2 ; Gr 3,19 v.v.) và cũng như là người mẹ (Is 49,15; Hs 11,8; Gr 31,20).
Tất nhiên trong
các dân tộc khác nhau, ở mỗi nơi người ta có cách thức riêng để biểu lộ
lòng tôn kính cha mẹ, tuỳ theo phong tục của họ :
người châu Âu ôm
hôn cha mẹ ; người châu Á thì chấp tay vái lạy để biểu lộ lòng cung
kính, chứ không bao giờ hôn ở chỗ công khai. Thánh Phaolô khi đi truyền
giáo cũng phải "nhập gia tuỳ tục" như thế. Ngay sau khi mới bắt đâu tiếp
xúc với dân ngoại, người đã không giữ tên Do-thái là Sa-un của mình
nữa, mà dùng tên Hy-lạp Phaolô (Cv 9,46). Sau này người còn nói:
"Với người Do thái, tôi đã trở nên Do thái, để chinh phục người Do thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã nên người sống theo Lề Luật, dù không phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật. Đối với những người sống ngoài Lề Luật, tôi đã trở nên người sống ngoài Lề Luật, dù tôi không sống ngoài luật Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Kitô, đê chinh phục những người sống ngoài Lề Luật. Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người" (1 Cr 9,20-22).
Nguyên tắc sống mà thánh Phaolô nêu ra đó, ngày nay được
gọi là "hội nhập văn hoá":
người tông đồ đồng hoá cách sống của mình với những người chung quanh,
tất nhiên trên bình diện văn hoá, mục đích là để đưa Tin Mừng đến cho
họ, giúp họ khám phá ra rằng những gì là tốt lành nơi con người đều phát
xuất từ Thiên Chúa, và khi người ta giữ các giới răn của Thiên Chúa,
người ta đề cao phẩm giá và bảo vệ chính sự sống của mình.
Việc "thờ cha kính mẹ" rất được coi trọng nơi người châu Á trong đó có dân tộc Việt-nam ta.
Điều đó cũng rất phù hợp với đạo lý của Kitô giáo. Chúng ta cần lưu ý vài điểm sau đây:
a
. Người châu Á nói chung biểu lộ lòng hiếu thảo đối với cha mẹ không những khi các ngài còn sống, mà cả khi các ngài đã qua đời.
Khác với người ngoại giáo cho rằng những người quá cố hoặc là bị tiêu
diệt hoàn toàn hoặc là linh hồn họ lai vãng chỗ này chỗ kia trên trái
đất, người Công giáo tin rằng ông, bà, tổ tiên của mình đã qua đời một
cách nào đó vẫn tồn tại trong Chúa, chứ không bị huỷ diệt thành
hư vô. Vì thế tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên là một khía cạnh của mầu
nhiệm các thánh thông công trong Nhiệm thể Chúa Kitô.
b
. Người Việt-nam gọi lòng hiếu thảo đối với cha mẹ là "đạo hiếu": tuy gọi là "đạo", nhưng đây không phải là tôn giáo hay là tín ngưỡng,
vì ông, bà, cha, mẹ đã qua đời không phải là những vị thần mà con, cháu
phải thờ phượng. Tiếng "đạo" ở đây chỉ có nghĩa là những bổn phận (kiểu
như "đạo làm người") mà con, cháu phải thi hành để biểu lộ lòng hiếu
thảo như tưởng nhớ, nhắc lại công ơn, cầu nguyện...
Vì thế việc lập
bàn thờ gia tiên trong gia đình (miễn là đặt dưới bàn thờ Chúa), dâng
hoa, dâng trái, dâng hương không có nghĩa là dâng của lễ, nhưng có nghĩa
là "tôn vinh" theo kiểu nói Kinh thánh "tôn vinh cha mẹ": nói
cách khác các cử chỉ ấy chỉ có mục đích nhắc nhở cho con cháu sự tồn tại
của các ngài trong tình yêu Thiên Chúa và công ơn các ngài đã cộng tác
với Thiên Chúa để sinh thành, dưỡng nuôi và giáo dục chúng ta.
c
. Việc chấp tay vái lạy có
nghĩa là bái chào một cách kính cẩn như nhiều dân tộc châu Á vẫn hiểu
và làm (ví dụ Nhật, Trung-quốc, Hàn quốc, Thái-lan...), chứ không nhất
thiết có nghĩa là tôn-thờ.
d
. Ngày giỗ
hay "kỵ nhật" là ngày kỷ niệm giáp năm
ngày chết
: đó là ngày mà
con cháu thường họp nhau để kính nhớ tổ tiên, cầu nguyện cho các ngài,
chứ không phải là ngày tế-tự hay kiêng kỵ.
Các giám mục miền Nam
Việt-nam năm 1974 đã cho phép các tín hữu Công giáo trên đất nước này
tôn kính tổ tiên "theo phong tục địa phương" và theo tinh thần như vừa
nêu trên: đó là một cách cụ thể tuân giữ giới răn Chúa dạy "phải thờ
cha, kính mẹ". Các giám mục cũng khuyên chúng ta phải tránh những phong
tục mê tín, dị đoan như đặt hồn bạch (đăt khăn trắng lên mặt người chết để giữ linh hồn họ lại), đốt vàng, mã...
Ngoài ra người công giáo chúng ta cũng nên tránh những cử chỉ, những
vật liệu có thể gây hiểu lầm cho người ngoại giáo cũng như cho những anh
em
Kitô hữu không phải Công giáo.
”
Về khoa học khái
niệm Dòng tộc; Đồng bào; Quốc dân Đồng bào ,về nhân chủng; di
truyền học cũng luôn bắt đầu từ tộc họ. Ai đã từng xếp hàng
tiếp máu cho người thân khi tiến hành phẫu thuật, sẽ nhanh
chóng hiểu câu “Một giọt máu đào hơn ao nước lã” nó chính xác
đến dường nào.
Đà Nẵng
, tháng 5 năm 2010
Lê Đình Sinh